Ung thư tế bào đáy (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 4 - 7 - 2016

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.


Ung thư tế bào đáy ngày càng trở nên thông thường, đặc biệt là ở những người da trắng vào độ tuổi 20 - 30. Ung thư tế bào đáy gặp ở hầu hết các vùng da tiếp xúc với ánh nắng. Biểu hiện thường gặp nhất là các sẩn hoặc u (ung thư tế bào đáy) có thể có vảy ở tâm hoặc bị trợt (dạng nốt loét). Đôi khi các u có màu nâu xám hoặc có các chấm sắc tố (ung thư tế bào đáy sắc tố). Các nơ vi trung bì không sắc tố ở người da trắng lớn tuổi có thể giống ung thư tế bào đáy. Các tổn thương này phát triển chậm, thường đạt đường kính 1 - 2cm sau nhiều năm sinh trường. Nó có diện mạo như “sáp ngọc trai” với các mao mạch giãn dễ thấy mặc dù các tổn thương này cũng có thể có ở vùng da “bình thường”. Tính chất trong mờ hoặc màu ngọc trai của các tổn thương này chính là triệu chứng xác định nhất để chẩn đoán và khi da bị căng đặc điểm này có giá trị nhất. Dạng ít gặp hơn là dạng tổn thương cứng bì hay dạng tổn thương giông vết sẹo. Những dạng này hiếm, giảm sắc tố, các mảng hơi dày lên. Các tế bào đáy có thể xuất hiện màu hơi đỏ, các mảng hoi sáng (ung thư tế bào đáy bề mặt) thường là ở lưng.

Các bác sĩ lâm sàng cần phải kiểm tra da hàng ngày, tìm kiếm các vết sưng. Các đốm lớn và các tổn thương có vảy. Khi kiểm tra vùng mặt, phải quan sát mép mí mắt và giữa khoé mắt, mũi và nếp gấp cánh mũi, môi và vùng xung quanh và sau tai. Trong khi hầu như không bao giờ có di căn, liệu pháp điều trị ung thư tế bào đáy có thể gây ra các biến dạng thẩm mỹ ở các vùng này, đặc biệt là các tổn thương điều trị không đúng cách hoặc các tổn thương tái phát. Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong. Ung thư tế bào đáy ở khoé mắt đặc biệt nguy hiểm. Các tổn thương nghi ngờ là ung thư tế bào đáy cần phải được sinh thiết bằng dao lam hoặc dao sinh thiết. Sau đó liệu pháp điều trị nhằm mục đích trừ bệnh tận gốc với biến dạng thẩm mỹ tối thiểu, thường cắt và khâu có tỷ lệ táí phát là 5 - 10%. Kỹ thuật cũ ba kỳ, dùng thìa nạo và làm khô bằng điện có tỷ lệ tái phát cao hơn, phụ thuộc vào kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật và thường lchông tối ưu đối với điều trị các tổn thương ở quanh mặt, mủi và tai. Sau 4 - 6 tuần lành vết mổ sẽ để lại sẹo quá sản, giảm sắc tố đồng thời phình to. Liệu pháp lạnh có thể cho tỷ lệ chữa khỏi tốt, nhưng thời gian lành bệnh lâu. Liệu pháp tia X có hiệu quả nhưng các khối u tái phát sau trị liệu khó điều trị hơn và trầm trọng hơn. Phẫu thuật MOHS là gồm cắt khối u, sau đó đánh dấu bờ tổn thương rồi ngay lập tức làm lạnh mảng thương tổn, kiểm tra giải phẫu bệnh và cắt lại vùng có u, cuối cùng đống vết thương. Phương pháp này cho tỷ lệ chữa khỏi cao nhất (98%) và phần mô bị mất đi là ít nhất. Đây là liệu pháp thích hợp đối với điều trị các khối u ở mí mắt, mũi và các tổn thương tái phát hoặc ở những nơi mà việc cắt mổ đòi hòi đảm bảo thẩm mỹ nhưng liệu pháp này rất tốn kém. Việc tiêm tại chỗ interferon nhiều lần chữa khỏi tới 80% các thương tổn u, thấp hơn tỷ lệ khỏi bằng liệu pháp cắt bỏ. Đây là một lĩnh vực thú vị đối với nghiên cứu sâu hơn. Cần phải tránh phơi nang để giảm khả năng bị bệnh mới và bệnh nhân phải theo dõi cứ 6 - 12 tháng một lần để tìm các tổn thương mới hay tổn thương tái phát.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ (chẩn đoán và điều trị)

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu (chẩn đoán và điều trị)

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Lang ben (chẩn đoán và điều trị)

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Viêm da thần kinh (liken thường mạn tính, chẩn đoán và điều trị)

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Viêm nang lông (bao gồm cả viêm nang râu và loét mi mắt)

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Chốc (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Ban nấm da (dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm, chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Ung thư sắc tố (chẩn đoán và điều trị)

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Nấm tóc (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.

Xem theo danh mục