Rụng tóc (hói, chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 11 - 7 - 2016

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.


Rụng tóc do sẹo

Rụng tóc do sẹo có thể xảy ra sau chấn thương hóa học hay lý học, liken phẳng lông nhiễm khuẩn hay nhiễm nấm nặng, herpes zoster, luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính, xơ cứng bì và sau chiếu xạ ion hóa. Những yếu tố trong tiền sử, hình thái rụng, và sự xuất hiện của các thương tổn ở da sẽ cho chúng ta biết được nguyên nhân đặc biệt gây rụng tóc, như trong luput ban đỏ và những nhiễm khuẩn khác. Sinh thiết da có thể cần thiết để chấn đoán phân biệt luput với bệnh khác.

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc. Điều quan trọng là phải chữa bệnh mà nó sẽ gây sẹo càng sớm càng tốt.

Rụng tóc không do sẹo

Rụng tóc không do sẹo có thể liên quan tới nhiều bệnh, hệ thống như luput ban đỏ hệ thống, giang mai giai đoạn hai, cường hay thiểu năng tuyến giáp, suy tuyến thượng thận. Điều trị cần thiết duy nhất là kiểm soát các bệnh hệ thống một cách đúng đắn và mau lẹ, có như vậy rụng tóc mới có thể mọc lại được.

Rụng tóc da đầu (hói) ở nam giới, một bệnh hay hặp nhất trong các bệnh rụng tóc, là bệnh được thúc đẩy bởi gen. Thay đổi sớm nhất là rụng tóc ở phía trước của vòm sọ, hoặc ở bên chỏm đỉnh. Bệnh có liên quan với chất bã, bằng chứng là da đầu đỏ, có quá nhiều dầu và vảy da ở trên đầu. Tiến triển của rụng tóc rất khác nhau và không thể dự đoán trước được, Các nghiên cứu về thuốc bôi minoxidil mở rộng cho thấy kết quả rất tốt đối với thể rụng ở đỉnh. Sản phẩm thương mại, Rogaine, là loại dung dịch có chứa 20mg/ml minoxidil. Kết quả thu được tốt nhất đối với bệnh nhân < 50 tuổi, thời gian rụng < 5 năm và kích thước vùng tóc rụng nhỏ. Nếu bôi 2 lần/ngày và bôi hàng năm thì ở 40% bệnh nhân tóc sẽ mọc lại trung bình hay mọc rậm ở vùng đỉnh. Da dầu có thể được điều trị như đã nói ở chương viêm da tiệt bã, nhưng nó không có tác dụng đối với rụng tóc.

Tóc rụng hay mỏng đi ở phụ nữ có cùng một nguyên nhân như rụng tóc da đầu ở nam giới (rụng tóc nội tiết). Tuy vậy, ở nữ thường rụng sau thời kỳ mãn kinh. Minpxidil (Rogaine) là thuốc được chọn để điều trị rụng tóc do nội tiết ở nữ sau khi có rối loạn nội tiết, rối loạn này xảy ra trước thời kỳ mãn kinh, và được quyết định bởi testosteron, DHEAS, androstenedion, T3 và T4, và TSH. Spironolacton là một steroid aldosteron tổng hợp đối kháng, nó đã được sử dụng và có hiệu quả để điều trị rụng tóc lan toả ở phụ nữ với liều 25mg/ngày theo đường uống. Đây không phải là danh mục chỉ định của thuốc, nhưng trong những nghiên cứu về độc tính lậu dài ở chuột thấy có thể gây u. Corticosteroid uống đựợc khuyên dùng để ức chế sản xuất androgen thượng thận, nhưng những loại thuốc này có thể gây loãng xương và độc. Estrogen bôi đôi khi có giá trị.

Những phụ nữ phàn nàn về tóc mỏng mà không có dấu hiệu của rụng tóc cần phải theo dõi tiếp, vì 20% tóc ở có thể bị rụng trước khi các nhà lâm sàng nhận thấy.

Rụng tóc giai đoạn tóc ngừng phát triển là hiện tượng rụng tóc tạm thời ở một vài bệnh nhân, do tăng một cách tạm thời tóc ở giai đoạn ngừng phát triển trong chu kỳ phát triển của tóc. Điều này xảy ra một cách tự động, có thể xảy ra trong giai đoạn phụ nữ sau đẻ, do suy sụp cơ thể, do sốt cao, stress, phẫu thuật hay sốc hoặc suy dinh dưỡng, và cũng có thể do thuốc tránh thai hormon. Bất kể do nguyên nhân nào, rụng tóc giai đoạn nghỉ thường kéo dài 2 - 4 tháng. Tiên lượng nói chung tốt. Chẩn đoán rụng tóc giai đoạn nghỉ dựa vào số lượng tóc rụng lớn và dưới chân tóc có một màu trắng khi kéo tóc nhẹ nhàng hoặc có hơn 6 tóc như vậy nếu bệnh nhân gội đầu vào buổi sáng hôm đó. Đếm số tóc rụng ở lược hoặc sau khi gội đầu nếu rụng trên 150 cái, so sánh với số trung bình là 70 - 100. Trong một nghiên cứu của chúng tôi, nguyên nhân chính của rụng tóc loại này là do thiếu sắt, và số tóc rụng có liên quan rõ rệt với nồng độ sắt trong huyết thanh.

Rụng tóc thành mảng là bệnh không rõ nguyên nhân nhưng người ta cho rằng đó là bệnh do miễn dịch. Điển hình, mảng da ở vùng rụng tóc hoàn toàn mịn, có màu hồng và không có sẹo. Có thể thấy những sợi tóc nhỏ, dài độ 2 - 3mm và được gọi là tóc hình chấm than. Các sợi tóc ở giai đoạn nghỉ ở xung quanh mảng tóc rụng dễ bị rụng hơn. Lông mày, râu, và lông mi cũng có thể bị rụng, tóc cũng có thể rụng toàn bộ đầu (alopecia totalis) hoặc tất cả các loại lông, có thể cả lông ở trong lỗ mũi (Alopecia universalis). Giải phẫu bệnh, thấy có nhiều tóc ở giai đoạn đầu của chu kỳ phát triển có kích thước nhỏ và có sự xâm nhập của các lympho bào. Thể nặng có thể điều trị bằng corticoid toàn thân, mặc dù corticoid hiếm khi có tác dụng trừ khi rụng tóc do tinh thần và kinh tế. Bệnh rụng tóc thành mảng có thể kết hợp với bệnh viêm tuyến giáp của Hashimoto, thiếu máu ác tính, bệnh Addison và bạch biến.

Điều trị bằng anthralin 0,5% dạng mỡ bôi hàng ngày có thể kích thích tóc mọc. Tiêm tại chỗ corticosteroid thường có kết quả. Triamcinolon acetonic vối nồng độ 10mg/ml tiêm theo 1 - 2cm khoảng cách mỗi mũi 0,1 ml, tổng liều không tiêm quá 50mg mỗi tháng đối với người lớn. Rụng tóc thành mảng có thể tự khỏi, ở 80% bệnh nhân tóc mọc lại hoàn toàn, nhưng có một vài trường hợp nhẹ lại kháng thuốc và tiến triển tối rụng toàn bộ đầu hay rụng toàn thân. Minoxidil bôi có hiệu quả ở một số bệnh nhân. Cả thuốc bôi dinitrochlobenzen (DNCB) và bôi thực nghiệm đều gây dị ứng, acid dibutyl ester được dùng để điều trị rụng tóc mảng mạn tính. Yếu tố cơ bản là gây nhạy cảm da, rồi bôi ngắt quãng thuốc có nồng độ yếu để tạo ra và duy trì viêm da nhẹ. Đã có thông báo một số trường hợp tóc mọc lại sau 3 - 6 tháng, nhưng không nói đến hiệu quả và an toàn lâu dài của DNCB. Những nhóm hỗ trợ những bệnh nhân rụng tóc thành mảng lan rộng đã có hiệu quả đối với một số bệnh nhân.

Trong chứng tự nhổ tóc, mảng tóc rụng thường không đều, và trên mảng rụng tóc vẫn có những sợi tóc đang mọc vì bệnh nhân không thể nhổ những tóc quá ngắn. Mảng rụng tóc thường chỉ ở một bên, hình tròn và cùng bên với bên tay thuận của bệnh nhân. Bệnh nhân có khi không biết được thói quen của mình.

Rụng tóc do thuốc là một loại rụng tóc ngày càng quan trọng. Các thuốc sau đây có thể gây rụng tóc: thallium, dùng kéo dài và quá liều vitamin A, retinoid, thuốc chống phân bào, chống đông, Cloflbrat (hiếm), thuốc chống cường giáp, thuốc tránh thai, trimethadion, allopurinol, propranolol, indomethacin, camphetamin, salicylat, gentamycin và levodopa. Rụng tóc do hóa chất gây rất lo láng, cần phải nhấn mạnh là rụng tóc không thể thay đổi được. Bác sĩ cần nói cho bệnh nhân biết điều đó.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ (chẩn đoán và điều trị)

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu (chẩn đoán và điều trị)

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Lang ben (chẩn đoán và điều trị)

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Viêm nang lông (bao gồm cả viêm nang râu và loét mi mắt)

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Viêm da thần kinh (liken thường mạn tính, chẩn đoán và điều trị)

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Chốc (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Ung thư sắc tố (chẩn đoán và điều trị)

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Ban nấm da (dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm, chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Nấm tóc (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.

Xem theo danh mục