Thủ thuật bổ tả trong châm cứu


Ngày: 13 - 8 - 2013

Bổ: dùng thủ thuật Thiêu sơn hỏa có thể gây được cảm nóng ấm ở chỗ châm hoặc có khi cả toàn thân. Thủ thuật này phối hợp ba thủ thuật trên cùng làm, bảo người bệnh hít vào bằng mũi 1 lần, thở ra bằng miệng 5 lần.

Trong quá trình điều trị bệnh nhân, người thầy thuốc châm cứu, phải quan tâm đến thủ thuật bổ tả. Tùy theo trường hợp chọn lựa của thầy thuốc mà thủ thuật này sẽ được tiến hành đồng thời hoặc sau khi đã đạt được cảm giác “đắc khí”.

Chỉ định của phép bổ

Những bệnh mà Y học cổ truyền chẩn đoán là hư, thường là những bệnh mắc đã lâu.

Cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm.

Chỉ định của phép tả

Những bệnh mà Y học cổ truyền chẩn đoán là thực, thường là những bệnh mới mắc.

Cơ thể bệnh nhân còn khỏe, phản ứng với bệnh còn mạnh.

Những loại thủ thuật bổ và tả kinh điển

Có cách bổ tả dùng đơn thuần một thủ thuật, có cách bổ tả dùng phối hợp 2 đến 3 thủ thuật. Người xưa đã đề cập đến những thủ thuật sau đây:

Bổ tả theo hơi thở

Bổ: khi người bệnh thở ra thì châm kim vào, gây được cảm giác “đắc khí”, chờ lúc người bệnh hít vào thì rút kim ra. Như thế, khí được đầy đủ ở trong nên có tác dụng bổ hư.

Tả: khi người bệnh hít vào thì châm kim vào, gây được cảm giác “đắc khí”, chờ lúc người bệnh thở ra thì rút kim ra.

Bổ tả theo chiều mũi kim, thứ tự châm

Bổ: sau khi đạt cảm giác “đắc khí”, hướng mũi kim đi theo chiều vận hành của kinh mạch để dẫn khí, do đó có tác dụng bổ, (ví dụ: châm các kinh âm ở tay thì hướng mũi kim về phía ngón tay, châm các kinh dương ở tay thì mũi kim hướng về phía đầu); nếu châm nhiều huyệt trên một kinh thì châm các huyệt theo thứ tự thuận với chiều vận hành của kinh khí, (ví dụ: châm các kinh âm ở tay thì châm các huyệt ở ngực, cánh tay trước; huyệt ở bàn tay, ngón tay sau).

Tả: sau khi đạt cảm giác “đắc khí”, hướng mũi kim đi ngược chiều vận hành của kinh mạch để đón khí, chuyển khí, do đó có tác dụng của tả (ví dụ: châm các kinh âm ở chân thì hướng mũi kim về phía ngón chân, châm các kinh dương ở chân thì hướng mũi kim về phía đầu). Nếu châm nhiều huyệt trên một kinh thì châm các huyệt theo thứ tự nghịch với chiều vận hành của kinh khí (ví dụ: châm các kinh âm ở chân thì châm các huyệt ở ngực, bụng trước, các huyệt ở bàn chân, ngón chân sau; châm các kinh dương ở chân thì châm các huyệt ở ngón chân, bàn chân trước, các huyệt ởđầu, mặt sau).

Bổ tả theo kích thích từng bậc:

Bổ: châm nhanh vào dưới da (bộ thiên), gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 9 lần (số dương) rồi châm nhanh vào lớp cơ nông (bộ nhân) gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 9 lần; lại châm nhanh vào lớp cơ sâu (bộ địa) gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 9 lần; sau đó từ từ rút kim đến dưới da, dừng lại một lát, từ từ rút kim ra hẳn. Nếu bệnh tình cần thiết, có thể châm lại như trên lần thứ hai.

Tả: làm ngược lại với cách bổ. Trước tiên, từ từ châm thẳng vào lớp cơ sâu (bộ địa), gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 6 lần (số âm); rút kim nhanh lên lớp cơ nông (bộ nhân), gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 6 lần rồi lại rút kim nhanh lên dưới da (bộ thiên), gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 6 lần; sau đó dừng lại một lát rồi rút kim nhanh ra ngoài. Nếu bệnh tình cần thiết, có thể châm lại như trên lần thứ hai.

Bổ tả theo bịt và không bịt lỗ châm

Bổ: rút kim ra nhanh (Nội kinh) hoặc rút kim ra từ từ (Đại thành), day ấn để bịt ngay lỗ châm không cho khí thoát ra ngoài.

Tả: rút kim ra từ từ (Nội kinh) hoặc rút kim ra nhanh (Đại thành), không day bịt lỗ kim để cho khí tản ra ngoài.

Bảng tóm tắt các cách bổ tả:

Phương pháp

Bổ

Tả

Hơi thở

Thở ra, châm kim vào
Hít vào, rút kim ra

Hít vào, châm kim vào
Thở ra, rút kim ra

Chiều mũi kim

Hướng mũi kim đi thuận chiều kinh mạch

Hướng mũi kim đi ngược chiều kinh mạch

Thứ tự châm

Châm các huyệt theo thứ tự thuận chiều kinh mạch

Châm các huyệt theo thứ tự ngược chiều kinh mạch

Kích thích từng bậc

Châm vào nhanh 3 bậc
Rút kim chậm 1 lần

Châm vào nhanh 1 lần
Rút kim chậm 3 bậc

Bịt hay không bịt lỗ kim

Rút kim chậm hay nhanh, day ấn bịt lỗ kim

Rút kim nhanh hay chậm, không day bịt lỗ kim

Phương pháp bổ tả hỗn hợp

Thiêu sơn hỏa, Thấu thiên lương:

Bổ: dùng thủ thuật Thiêu sơn hỏa có thể gây được cảm nóng ấm ở chỗ châm hoặc có khi cả toàn thân. Thủ thuật này phối hợp ba thủ thuật trên cùng làm, bảo người bệnh hít vào bằng mũi 1 lần, thở ra bằng miệng 5 lần. Khi người bệnh đang thở ra châm mau vào dưới da, gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 3 hoặc 9 lần (số dương); châm tiếp vào lớp cơ nông, gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 3 hoặc 9 lần; lại châm tiếp vàp lớp cơ sâu, gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 3 hoặc 9 lần. Sau khi tiến hành và kích thích 3 bậc, từ từ kéo kim lên dưới da, dừng lại một lát, đợi người bệnh hít vào thì rút hẳn kim và day bịt ngay lỗ kim (Châm cứu đại thành).

Tả: dùng thủ thuật Thấu thiên lương, có thể gây được cảm giác mát ở chỗ châm hoặc có khi cả toàn thân. Đây cũng là thủ thuật phối hợp ba thủ thuật đơn giản trên. Bảo người bệnh thở vào bằng miệng 1 lần, thở ra bằng mũi 5 lần. Khi người bệnh đang thở vào, châm từ từ vào lớp cơ sâu, gây “đắc khí”, vê kim theo một chiều 6 lần; rút nhanh lên lớp cơ nông, châm xuống từ từ rồi rút kim nhanh 3 lần; sau đó rút kim nhanh lên dưới da, dừng lại một lát, đợi khi người bệnh thở ra thì rút kim nhanh ra ngoài và không day bịt lỗ kim (Châm cứu đại thành).

Những loại thủ thuật bổ và tả thường dùng hiện nay

Trên cơ sở kinh nghiệm của người xưa, hiện nay các thủ thuật bổ tả thường dùng gồm:

Bổ tả theo hơi thở bệnh nhân.

Bổ tả theo cường độ kích thích kim.

Bổ tả theo thời gian lưu kim.

Bổ tả theo kỹ thuật lúc rút kim.

Bảng: Thủ thuật bổ tả thường dùng:

Phương pháp

Bổ

Tả

Theo hơi thở

Thở ra, châm kim vào
Hít vào, rút kim ra

Hít vào, châm kim vào
Thở ra, rút kim ra

Cường độ

Châm “đắc khí”, để nguyên không vê kim

Châm “đắc khí”, vê kim nhiều lần

Thời gian

Lưu kim lâu

Lưu kim ngắn

Rút kim

Rút kim nhanh

Rút kim từ từ

Bịt lỗ châm

Rút kim bịt ngay lỗ châm

Rút kim không bịt lỗ châm

Thầy thuốc châm cứu hiện nay có khi phối hợp cả 5 yêu cầu trên, nhưng rất thường chỉ phối hợp 2 yêu cầu cường độ và thời gian.

Những thủ thuật và chỉ định thường dùng

Tên gọi phương pháp

Thao tác chính

Chứng thích hợp

Phương pháp bổ, tả; bình bổ, bình tả dựa theo tốc độ tiến lùi và vê kim

Phép bổ

Tiến kim chậm, vê kim nhẹ nhàng, khi rút kim đến sát ngoài da nghỉ 1 chút rồi rút kim nhanh

Hư chứng

Phép điều hòa

Tiến lui kim vừa phải

Không hư không thực

 

Phép tả

Tiến kim nhanh, vê kim nhanh và rút chậm rãi

Thực chứng

 

Phương pháp dựa theo cường độ kích thích

Kích thích nhẹ

Vê kim chậm và nhẹ nhàng

Trẻ con, bệnh nhân sợ kim hay xỉu

Kích thích vừa

Cường độ kích thích vừa

Các loại bệnh

 

Kích thích mạnh

Vê kim mạnh và nhanh

Bệnh nhân phản ứng chậm (hôn mê), viêm khớp, viêm cơ, bệnh tâm thần

 

Phương pháp dựa theo độ nông sâu của kim châm

Châm nông

Châm đến dưới da

Bệnh ngoài da, bệnh trẻ con, nhiệt chứng tại biểu

Châm vừa

Châm vào thịt

Các loại bệnh hàn chứng

 

Châm sâu

Châm xuyên qua thịt

Viêm cơ, viêm khớp, phong thấp mạn tính, bệnh tâm thần

 

Phương pháp dựa theo thời gian châm

Châm nhanh

Châm vào nhanh, rút ra nhanh

Hôn mê, nhiệt chứng (ở biểu)

Châm hoãn

Châm vào một lúc thì đổi thủ pháp

Các bệnh mạn chứng nhiệt chứng (ở lý)

 

Lưu kim lâu

Lưu kim thời gian dài

Hàn chứng (viêm cơ, viêm khớp, phong thấp mạn tính), đau nhức, kinh liệt, co rút.

 

 


Bài xem nhiều nhất

Điện châm trong châm cứu

Đây là phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu (của y học cổ truyền) với phương pháp chữa bệnh bằng dòng điện (của y học hiện đại).

Đại cương về huyệt châm cứu

Các nhà khoa học ngày nay chỉ công nhận sự hiện hữu của huyệt vị châm cứu về mặt hiệu quả trị liệu và về mặt điện sinh vật (tham khảo thêm ở phần III - bài mở đầu).

Nguyên tắc chọn huyệt châm cứu

Trên một hoặc những đường kinh có liên hệ đến bệnh chứng cần điều trị, người thầy thuốc châm cứu đặc biệt chú ý đến những huyệt nằm ở những đoạn từ khuỷu tay đến ngón tay và từ đoạn khoeo chân đến ngón chân.

Kỹ thuật châm và cứu

Cần kiên trì khéo léo giải thích cho bệnh nhân yên tâm trước những thủ thuật châm, giúp bệnh nhân tránh những căng thẳng vô ích trong khi châm, tạo điều kiện tốt cho châm cứu phát huy tác dụng của nó.

Lộ trình và hội chứng bệnh của 12 kinh chính trong châm cứu

Mỗi kinh chính đều có vùng phân bố nhất định ở mặt ngoài của thân thể và tạng phủ bên trong. Vì vậy, mỗi kinh đều bao gồm một lộ trình bên ngoài và một lộ trình bên trong.

Thủ thuật bổ tả trong châm cứu

Bổ: dùng thủ thuật Thiêu sơn hỏa có thể gây được cảm nóng ấm ở chỗ châm hoặc có khi cả toàn thân. Thủ thuật này phối hợp ba thủ thuật trên cùng làm, bảo người bệnh hít vào bằng mũi 1 lần, thở ra bằng miệng 5 lần.

Đại cương và quy tắc chọn huyệt

Để đưa kỹ thuật đạt đến một trình độ cao hơn, thầy thuốc phải thường xuyên tra cứu, tập hợp tài liệu, đi đến những kết luận rút ra từ thực tế bản thân, như vậy mới mong ngày càng tiến bộ hơn.

Phép châm điều trị châm cứu

Tì đầu ngón tay cái (hoặc ngón tay trỏ) của bàn tay trái vào cạnh huyệt, ngón cái và ngón trỏ tay phải cầm chuôi kim. Trong khi bệnh nhân chú ý vào chỗ tay trái tì bấm, ta châm kim nhanh vào huyệt vị, sát dìa đầu ngón tay tì.

Học thuyết kinh lạc châm cứu

Kinh lạc là những đường vận hành khí huyết. Những con đường này chạy khắp châu thân, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, cả bên trong (ở các tạng phủ) lẫn ngoài nông.

Châm cứu đau lưng

Khởi đầu có thể có liên quan với thời tiết như lạnh, ẩm, mệt toàn thân và viêm nhiễm đường hô hấp trên.

Phương pháp châm loa tai (nhĩ châm)

Trong sách bàn về sự sinh sản có nêu: “Những người để cho chích bên cạnh tai, lúc giao hợp vẫn phóng tinh, song tinh dịch chỉ có ít tinh trùng, nên không có tác dụng làm thụ thai”.

Châm cứu đau vai

Là tình trạng viêm nhiễm mạn tính hoặc thoái hoá gân, thường gặp ở những người lao động trên tuổi trung niên. Đau thường biểu hiện ở mé ngoài vai, và đau gân nối phần trên gai với mấu động to xương cánh tay.

Châm cứu viêm khớp

Viêm khớp dạng thấp chủ yếu hay gặp ở thanh niên và trung niên từ 20 đến 40 tuỏi. Bệnh khởi phát thường lặng lẽ; đôi khi bệnh khởi phát rầm rộ.

Tám mạch khác kinh (Kỳ kinh bát mạch)

Nhâm có nghĩa là trách nhiệm, có chức năng hướng dẫn. Mạch Nhâm chạy theo đường giữa trước thân và quản lý tất cả các kinh âm, vì thế còn có tên “bể của các kinh âm”.

Châm cứu cảm cúm

Cúm, do virut cúm gây nên; là bệnh viêm nhiễm cấp tính, rất hay lây. Triệu chứng lâm sàng thường là: ớn lạnh đột ngột rồi sốt 390C hoặc cao hơn, kèm theo nhức đầu nhiều; đau mỏi tứ chi.

Xem theo danh mục