Đương quy


Ngày: 26 - 6 - 2015
Bài cùng chuyên mục

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Còn gọi là tần quy, vân quy.

Tên khoa học Angeỉica sinensis (Oliv.) Diels, (Angellca polymorpha Maxim, var. sinensis OIìv).

Thúộc họ Hoa tán apraceae (ỊJmbelliferae).

Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy.

Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có tên như vậy.

Mô tả cây

Đương quy

Đương quy là một loại cây nh, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 12cm, 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng họp thành cụm hoa hình tấn kép gồm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 8.

Phân bố, thu hái và chế biến

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương qui ở vùng đồng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.

Tại Trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tinh Cam Túc, Tớ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây.

Hằng nãm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đầu dông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông. Qua mùa xuân lại trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu năm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rể vể cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy đầu là r chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của r chính hoặc là rễ phụ lớn.

Quy vĩ là rễ phụ nhỏ, Đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung Quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phn lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta không phân biệt nữa. Toàn r cái rễ phụ được gọi là toàn quy.

Thành phần hóa học

Trong đương quy có tinh dầu. Có tác giả đã xác định tỷ l tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15°c, màu vàng sẫm, trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%; thành phần chủ yếu của tình dầu giống tinh dầu của đương quy Nhật Bản (Dược học thông báo, 1954, trang 432 và Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr. 384).

Trong đương quy Nhật Bản Angclica acutiìoba (Sieb. et Zucc). Kitagavva Ligusticum acutilobum (Sieb. et Zucc), người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n- butylidenphtalit và n-valerophenon O- cacboxy-axit - Ngoài ra còn có n- butylphtalit, becgapten, sesquitecpen, saírola và một ít vitamin B12.

Tác dụng dược lý

Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.

Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn. Trên tử cung. Đương quy có 2 loại tác dung: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.

Theo Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med.J. 38: 362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm cho chó đă gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì 100% hiện tượng co tử cung. Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể (không có tính chắt bay hơi, không có đường và kiềm tính) chiết từ đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch th thì cũng thấy sức co bóp của t cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao; nếu dùng tinh th nói trên pha với dung dịch Tyrốt thành 1/2.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài; dung dịch pha 10ãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp mạnh. Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.

Theo Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ và Trương Diệu Đức (Trung Hoa y học tạp chí 21: 611; 1935) thì đã dùng tinh du của đương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại khôi phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương quy không làm thương tổn nhiều đối với cơ của tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của đương quy ngược lại với tác dụng cùa tuyến yên và của histamin, tức là sau khi tác dụng bằng atro- pin suníat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng tác dụng ca đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kình mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trực tiếp trên cơ của tử cung này mà chữa bệnh thống kinh, so với atropin thì an toàn hơn. Nhưng nãm 1949 (Trung Hoa y học tạp chí, 35; 353) Trương Xương Thiệu cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tử cung là đại diện cho cách tác dụng của đương quy chưa được đúng đắn.

Kinh nghiệm dùng đương quy trên lâm sàng cho biết đương quy có tác dụng làm dịu tử cung co quắp. Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung Hoa y học tạp chí, 34: 457) đã dùng đương quy chữa cho 129 bệnh nhân thống kinh (kinh nguyệt đau đớn) tất cả đã dùng 257 lần thì thấy kết qùa tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung. Các tác giả đề xuất ra 3 loại tác dụng cùa đương quy.

Ức chế sự co cùa tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tủ cung, trực tiếp làm cho hành kinh không đau.

Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cải thiện sự dinh dưõng tại chỗ, làm cho tử cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (thấy kinh đau đớn).

Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đỏ tham gia làm giảm đau trong lúc kinh nguyệt.

Năm 1954 Ngô Bảo Sam và những người cộng tác đã báo cấo dùng đương quy mua ở Thượng Hải chế thành nước sắc, cồn thuốc, chiết bằng ete dầu hỏa, ete sunfurìc, cloroíoc, cồn nguyên chất và cồn 70°. Với 8 loại chế phẩm đó thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và theo phương pháp trường diễn của Reynolds (1929) thì thấy cả 8 loại đu làm tăng tính tiết luật cùa tử cung cô lập thỏ, làm giảm trương lực (tonus); liều lớn thì hoàn toàn ức chế; nếu tiêm vào tĩnh mạch súc vật đã gây mê (mèo, chó, thỏ) thì thấy sự co của từ cung tại chỗ được tăng mạnh, đồng thời huyết áp hạ xuống; nếu tiêm tĩnh mạch những con thỏ theo dõi theo phương pháp Reynolds (mãn tính, trường diên) thì thấy có tác dụng hưng phấn.

Dùng nước sắc đương quy với liều 300, 150, 30, 15 mg trên 10g thể trọng tiêm vào màng bụng chuột nht và thuốc chiết bằng ête dầu hỏa với liều 200, 100, 50 mg trên mỗi con chuột tiêm dưới da chuột nhắt đều không thấy tác dụng của các nội tiết tố nữa.

Nàm 1954 (Trung Hoa y học tạp chí, 9; 670- 682), Lã Phú Hoa, Ngô Hy Đoan và Hồng Sơn Hải báo cáo đã dùng một loại đương quy (có lẽ là Ligustỉcum acuti10bum) chế thành thuốc sắc, cất kéo hơi nước và chiết bằng ête thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và trên tử cung trường diễn, cũng đi đến kết quả gần như kết quả của Ngô Bảo Sam kể trên và các tác giả đề xuất rằng đương quy có hai loại tác dụng hưng phấn và ức chế. Chất có tác dụng ức chế có trong đương quy chủ yếu nằm trong phần bay hơi được, có độ sôi 189°-210°c ờ 5 mm thủy ngân, thành phần này trong quá trình sc thuốc thông thường vẫn được áp dụng trong nhân dân thường không bị bay đi nhiều. Thành phần có tác dụng hưng phấn tan trong nước, trong rượu êtylic, không tan trong ète là chất không bay hơi.

Nám 1954, Chu Nhan (Trung dược đích dược lý dữ ứng dụng) đã đề xuất rằng đương quy có hai tác dụng: Thành phần tan trong nước, không bay hơi, có tinh thể, có tác dụng hưng phấn cơ t cung làm cho sự co bóp tăng mạnh; thành phần bốc hơi có tác dụng ức chế cơ tử cung, làm cho tử cung giãn nghỉ, nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung thì cần sắc thuốc có dương quy lâu để trừ bỏ bớt phần bay hơi; trái lại nếu muốn làm cho tử cung giãn nghỉ thì chỉ nên sắc rất chóng để bảo vệ phấn bay hơi.

Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E. Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. physiol. 16; 373) dùng thức ãn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2-5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Ngh Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sở dĩ dùng đương quy làm thuc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.

Tác dụng trên trung khu thần kinh. Theo sự nghiên cứu của một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thắp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, ri đến liệt tim.

Tác dụng trên huyết áp và hô hấp. Theo Schmidt. Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu cùa đương qụy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi cùa đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao. Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa y học tạp chí 21: 611) đã theo dõi tác dụng của tình dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nh tinh du tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau.

Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.

Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhiểu hơn, hô hấp khó khãn.

Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khãn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết.

Tác dụng làm hô hấp khó khãn đối với thỏ ít hơn so sánh với mèo và chó, cho nên có thể nói độ độc của đương quy đối với huyết áp hay hô hấp rất thấp.

Tác dụng trên cơ tỉm. Theo Ngụy Liên Cơ (1950 sinh lý học háo 20 (2); 105-110-Trung văn) thì tác dụng trên tim của đương quy giống tác dụng của quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ête êtylic.

Tác dụng kháng sinh. Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng ly và tụ cầu trùng.

Công dụng và liều dùng

Theo đông y dương quy vị ngọt, cay, tính ôn. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh.

Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiêu dơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

Chủ yếu dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia làm 2 lẫn uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10 ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày. Còn làm thuốc bổ huyết chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh.

Đơn thuốc có đương quy dùng trong đông y

Bài tứ vật (tứ vật thang) đương quy, thục địa (hay sinh địa), mỗi vị 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200 ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày, làm thuốc chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng.

Đối với phụ nữ sau khi đẻ lắm bệnh có khi người ta dùng bài tứ vật nói trên thêm hắc can khương, hắc đậu (đậu đen), trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bồ hoàng.

Bài đương quy kiện trung thang của Trương Trọng Cảnh dùng chữa bệnh phụ nữ sau khi đẻ thiếu máu, thuốc bổ huyết: Đương quy 7g, quế chi, sinh khương, đại táo mỗi vị 6g, thược dược 10g, đường phèn 50g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lấn uống trong ngày.

Chữa chảy máu cam không ngừng: Đương quy sao khô tán nhỏ, mỗi ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần dùng 4g. Dùng nước cháo mà chiêu thuốc.

Dưỡng não hoàn-vìên dưỡng não. Dùng chữa mất ngủ, nhức đầu, ngủ hay mê: Đương quy 100g, viễn chí 40g, xương bồ 40g, táo nhân 60g, ngũ vị 60g, khởi tử 80g, đởm tinh 40g, thiên trúc hoàng 40g, 10ng cốt 40g, ích trí nhân 60g, hổ phách 40g, nhục thung dung 80g, bá tử nhân 60g, chu sa 40g, hồ đào nhục 80g. Tất cả tán thành bột thêm mật ong vào viên thành viên mỗi viên nạng chừng 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên. Uống luôn 15 ngày (bài thuốc kinh nghiệm Trung Quốc).


Bài xem nhiều nhất

Cây diếp cá

Một ý kiến khác cho rằng những dẫn xuất của đioxyflavonon (3-4díoxyflavonol) đều có tính chất của rutin nghĩa là tăng sức chịu đựng của vi ti huyết quản làm cho huyết quản khó đứt vỡ.

Cây hoa cứt lợn

Trên súc vật thí nghiệm thấy có tác dụng chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng phù hợp với những kết quả thu được trên thực tế lâm sàng điều tri viêm mũi cấp và mãn.

Hương phụ (cỏ gấu)

Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu, hoa lưỡng tính, 3 nhị dài chừng 2mm, nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ. Quả 3 cạnh màu xám.

Cây ngưu tất

Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoậc sấy khô.

Cây tô mộc

Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước ta vì gỗ được dùng làm thuốc nhuộm gỗ và làm thuốc với tên tô mộc. Người ta dùng gỗ chẻ mỏng phơi khô.

Nhội

Cây nhội được trồng lấy bóng mát ở nhiều thành phố ở Việt Nam, nhiều nhất ở Hà Nội. Còn thấy mọc hoang trong rừng. Cũng thấy mọc ở Ân Độ, MaLaixia, InĐônêxia, Châu Đại Dương.

Thược dược (bạch thược, xích thược)

Chất axit benzoic trong thược dược uống với liều cao có thể sinh co quắp, cuối cùng mê sảng và chết. Do thành phần này, thược dược có tác dụng trừ đờm, chữa ho.

Mướp

Cây mướp được trồng ở khắp nơi ở Việt Nam. Thường chỉ để lấy quả luộc hay xào nấu để ăn. Rất ít người dùng làm thuốc.

Thiên lý

Trong nhân dân thường chỉ dùng hoa và lá thiên lý non để nấu canh ăn cho mát và bổ.

Bán hạ

Cây bán hạ ở Việt Nam mọc hoang ở khắp những nơi đất ẩm ở nước ta từ Nam chí Bắc. Còn mọc ờ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản.

Cây rau ngót

Lá rau ngót ngoài công dụng nấu canh, còn là một vị thuốc nhân dân dùng chữa sót nhau và chữa tưa lưỡi.

Cửu lý hương

Cây mọc hoang dại và được trồng ở một số vùng nước ta để làm thuốc. Còn mọc ở nhiều nước ôn đới như Pháp, Ý, bắc châu Phi.

Đương quy

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Mít

Mít được trồng khắp các tỉnh ở Việt Nam. Còn thấy cả ở Lào, Campuchia. Chủ yếu người ta trồng để lấy quả ăn. Quả non luộc làm rau ăn. Hạt nướng hay luộc ăn ngon, thơm và bùi, gỗ quý, màu vàng, không mọt, dùng làm nhà, làm đồ đạc và tạc tượng.

Cây hồng hoa

Nước sắc hồng hoa thí nghiệm trên tử cung cô lập và không cô lập ca chuột, thỏ, mèo, chuột bạch và chó thấy có tác dụng kích thích lâu dài.