Cây xoan

Ngày: 1 - 9 - 2015

Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dừng sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác.


Còn gọi là sầu đâu, xoan trắng, xuyên luyện, khổ luyện, đốc hiên, sđâu (Campuchia), lilas du Japon, lilas des Indes, laurier grec, faux sycomore.

Tên khoa học Melia ơzedarach L.

Thuộc họ Xoan Meliaceae.

Ta dùng vỏ thân, vỏ cành to và vỏ rễ phơi khô hay sấy khô của cây xoan - Cortex Meliae. vỏ rễ tốt hơn.

Mô tả cây

 

Cây xoan

Xoan là một cây to cao, có thể đạt tới 25-30m nhưng thòng thường chỉ thấy 10-15m là người đã khai thác, vỏ thân xù xì, nhiều chỗ lồi lõm, với nhiều vết khía dọc. Lá mọc cách 2-3 lần kép lông chim lẻ. Chiều dài toàn bộ lá có thể tới 60- 100cm, chiều rộng toàn bộ lá 40-60cm. Lá chét dài 7-8cm, rộng 2-3cm. Cuống lá chét ngắn, mép khứa răng cưa nông, mặt dưới lá và cuống có lông hình khiên. Cụm hoa xim hai ngả, 4-5 lá đài, 4-5 cánh hoa màu tím nhạt, ống nhị màu tím. Bầu 4-5 lá noãn. Quả xoan kết quả vào tháng 3, chín vào tháng 12. Khi còn nhỏ non màu xanh, khi chín có màu vàng. Trong quả chứa một hạch màu nâu nhạt.

Ở các tỉnh vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu...) cây xoan mọc phổ biến là loài Melia toosendan Sieb, et Zucc., có quả to hơn, quả hạch có 6-8 ô.

Phân bố, thu hái và chế biến

Xoan là một cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong Việt Nam, miền núi cũng như miền xuôi, ở miền xuôi cây mọc khỏe hơn. Nhân dàn ta hay trồng xoan vì dễ trồng, chóng lớn. Chỉ sau 6-7 năm là đã có thể khai thác lấy gỗ làm cột nhà, làm đồ dùng. Xoan thích hợp với nhiều loại đất: bãi cát, đồng bằng, đồi núi, nương rẫy. Thường trồng bằng hạt; vào khoảng tháng 12 hạt xoan đã chín, hái về ngâm nước, chà sạch lớp thịt bên ngoài, đem phơi khô cất nơi khô ráo. Hạt xoan có thể giữ từ 7-8 tháng. Khi trồng đào hốc sâu 25-30cm, rộng 30-40cm, hố này cách hố kia 1-1,5m mỗi hốc gieo 3-4 hạt.

Khi lấy vỏ làm thuốc nên chọn những cây đã đến tuổi khai thác gỗ (6-7 năm), chặt cả cây, cạo bỏ vỏ đen rồi bóc lấy lớp vỏ lụa ưấng của vỏ thân, vỏ cành to; nếu cần đào cả rễ, bóc lấy lớp vỏ bỏ gỗ lại vần dùng làm củi được. Như vậy, trước đây khi khai thác xoan ta thường cạo vỏ bỏ đi hay chỉ đào rễ xoan làm củi thì nay kết hợp lấy vỏ làm thuốc. Gỗ và rễ vẫn dùng như cũ. Ta còn có thể đào rễ ở những cây xoan còn sổng, hay bóc lấy lớp vỏ ở thân những cây xoan còn đang phát triển. Nhưng chú ý để đù vỏ cho cây sống.

Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dừng sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác.

Vỏ thân và rể được dùng làm thuốc nhưng vỏ rễ mạnh hơn, với tên khổ luyện căn hì.

Nhìn bề mặt ngoài rất khó phân biệt vỏ thân hay vỏ rễ, nhưng qua vi phẫu ta có thể phân biệt cãn cứ vào mạch gỗ của vỏ thân hình chữ nhật, còn mạch gỗ cùa vỏ rễ hình tròn; lớp nhu mô của vỏ thân chứa diệp lục còn nhu mô vỏ rễ chỉ có tinh bột. Cụ thể từ ngoài vào trong vỏ thân ta thấy: lớp hóa bần thường bong ra ngoài, hai hàng tế bào biểu bì xếp đều đặn, đám sợi xếp rải rác trong phần nhu mô, nhu mô có có tế bào hình trứng xếp lộn xộn, chứa diệp lục, libe có tế bào nhỏ, vỏ mỏng, mạch gỗ hình chữ nhật, xếp thành hàng nằm trong nhu mô gỗ.

Trong vi phẫu vỏ rễ cũng có lớp hóa bần thường bóng ra ngoài mầu nâu, hai hàng tế bào biểu bì xếp đều đặn, thình thoảng có những bó sợi nằm trong nhu mô, nhu mô với tế bào hình trứng có chứa tinh bột, đám libe với những tế bào nhỏ mòng, mạch gỗ hình tròn, nhu mô gỗ với tế bào nhiều mặt.

Ngoài vỏ thân và vỏ rẽ, người ta còn dùng cả quả xoan làm thuốc với tên khổ luyện tử.

Thành phần hóa học

Vỏ thản vả vỏ rễ chứa một ancaloit vị đắng, do Comish lấy ra lẩn đầu tiên và được đạt tên là macgosin, có tác dụng diệt giun, ngoài ra còn 70% tanin. Nhưng có tấc giả lại cho macgosin chỉ là một chất nhựa vô định hình.

Tại Việt nam, từ năm 1970, Đỗ Tất Lợi, Đặng Văn Trường và cộng sự đã chiết được từ vò xoan một hoạt chất có phản ứng nhựa và có tác dụng trên giun đất, giun lợn và giun người (Dược học 1, 1971, 4-7) đã tìm hiểu DL-50 và thăm dò liều dùng trên người của hoạt chất này thu được kết quả tốt. Ngoài ra còn chiết được từ vỏ xoan chất béo không có tác dụng, đường cũng không có tác dụng và một chất cho phản ứng ancaloit có tác dụng trên giun nhưng yếu hơn hoạt chất cho phản ứng nhựa, một chất có tinh thể màu trắng nhưng chưa xác định được tính chất và cấu trúc. Trung bình 100g vỏ xoan cho từ 0,5 đến Ig chất có phản ứng nhựa, 0,1g chất béo và 0,30g chất cho phản úng ancaloit.

Quả chứa một ancaloit là araridin và một chất dầu (60%). Thành phần dầu có diêm sinh làm cho dầu có mùi tỏi. Theo Hồ Sùng Gia, thành phần có hiệu lực cùa quả xoan là một thứ nhựa trung tính, tính chất của nhựa chưa được ổn định. Để dành một năm, hiệu lực bị giảm.

Lá chứa một ancaloit gọi là paraisìn, một ít rutin (0,5% tính trên lá khô kiệt).

Tác dụng dược lý

Tác dụng chữa giun. Năm 1948 Hổ Sùng Gia (Trung Hoa y học tạp chí, 34:443) đã chứng minh thành phần tác dụng trên giun lợn là một chất nhựa trung tính, nhưng tính chất không ổn định, bảo quản sau một tháng tác dụng bị giảm, dịch chiết vỏ xoan bằng rượu với liểu 0,25% làm cho giun lợn bị say; nhựa trung tính chỉ cần nồng độ 0,1% cũng dã làm say giun lợn.

Năm 1967, Đỗ Văn Thù (Luận văn tốt nghiệp dược sĩ chuyên khoa dược liệu) đã tiến hành một số thí nghiệm sau đây;

Chiết vỏ xoan bằng nước đun sôi theo lối sắc thuốc, sau cô thành cao mềm và chiết cao mềm bằng cồn etylic, thu hổi cổn được nhựa màu vàng nâu vị đắng, mùi hãng hăng; làm chết giun lợn trong 30 phút.

Chiết vỏ xoan bằng nước, sau đó cố dịch chiết tới cao mềm và chiết cao mềm bằng axeton. Bốc hơi axeton, được thứ nhựa màu vàng, nhựa này có tác dụng làm giun lợn chết 20 phút.

Tỷ lệ nhựa thu được bằng phương pháp cồn là 0,42%, bằng phương pháp axeton là 0,21%.

Trên lâm sàng, hầu như chưa được dùng và theo dõi cẩn thận ở Việt Nam. Nhưng tại nhiều nước, đặc biệt tại Trung Quốc, vò xoan lã một loại dược liệu đặc biệt được chú ý sử dụng và theo dõi trên lâm sàng.

Năm 1952, Vương Đức Phấn và cộng sự (Nội khoa học báo, 6: 406) đã báo cáo sử dụng nước sắc vỏ xoan 100% trị 35 ca giun đũa đạt kết quả 78%, liều dùng vỏ rễ là 4-5g trên một kg thể trọng, uống vào hơi có tác dụng tẩy, một số có tác dụng phụ sinh mặt đỏ bừng, buồn ngủ, không cần uống tẩy.

Năm 1957, Trung y viện Trùng Khánh Trung quốc (Trung Hoa y học tạp chí, 5: 372- 375 hoặc Trung y học tạp chí, 3: 142-144) đã dùng thuốc viên chế từ vỏ xoan dưới hình thức viên 0,30 và 0,10 hoạt chất chữa 1327 trường hợp giun đũa kết quả đạt 72,2% với liều dùng sau đây; 1 tuổi uống từ 1 viên đến 1 viên rưỡi (hoạt chất thô chế 0,30g, hoạt chất tinh chế 0,10g), 2 đến 4 tuổi uống 2-3 viên, 5 đến 8 tuổi uống 4 viên, 9 đến 12 tuổi uống 5 viên, 13 đến 18 tuổi uống 6 viên, trên 19 uống 7-8 đến 9 viên; liều dùng còn căn cứ vào thể trạng bệnh nhân mà thêm bớt. Chừng 40% bệnh nhân uống vào thấy có tác dụng phụ như hơi choáng váng, buồn ngủ, mặt đồ, nhưng rất chóng hết.

Năm 1959, sờ nghiên cứu trung được tình Tứ Xuyên đã chế vỏ xoan thành thuốc viên áp dụng trên 4374 bệnh nhân, kết quả giun đũa ra đạt 73,79% so sánh với santonin không kém (Trung Y tạp chí, 4: 46-49).

Năm 1959 (Trung Hoa nội khoa tạp chí, 3; 241-244) Luyện Mai Thanh và cộng sự đã báo cáo sử dụng thuốc viên chế từ vỏ xoan chữa 115 ca giun đũa, đạt kết quả 76,52%, trứng giun trong phân chuyển ầm tính đạt 51,43%; sau khi uống thuốc có phản ứng không tốt chiếm 22,61 % biểu thị đau bụng, đầu váng, buồn nôn, bụng dầy trướng, phát sốt, nhức đầu, là một trong những triệu chứng thường gặp nhất, thứ đến mắt hoa, không muôn ăn, mặt bừng đỏ, toàn thân yếu mệt, nói khó khăn, buồn ngủ, chân tay tê dại v.v...

Tại Việt nam trong năm 1967, chúng tôi đã cùng Đỗ Văn Thủ phối hợp với trạm vệ sinh phòng dịch Ty Y tế Hòa Bình tiến hành tẩy giun bằng vỏ xoan và cách dùng sẽ giới thiệu ở phần công dụng và liều dùng nhưng không quá 1gam vỏ trên 1 kilôgam thán thể thì thấy trên toàn bộ những người thí nghiệm và trên 117 trường hợp theo dõi cẩn thận hoàn toàn không có ai có phản úng xấu. Toàn bộ những người uống đều ra giun kim, 86% ra giun đũa, có em bé ra tới 105 con giun và có người lớn đã uớng nhiều thuốc giun khác như xi rô piperazìn, santonin chưa bao giờ ra giun nay uống vỏ xoan đã ra giun (Luận văn tốt nghiệp cùa Đỗ Văn Thủ - Khoa dược liệu truòng đại học dược khoa Hà Nội 1968).

Tác dụng khác: Nước sắc vỏ xoan 4ml=lgam vỏ xoan có tác dụng ức chế một số vi trùng bệnh ngoài da (Trung Hoa bì phu khoa tạp chĩ 1957, 4: 268-292).

Nước sắc vỏ xoan còn dùng chữa bệnh viêm ầm đạo do tích trùng đạt kết quả rất tốt (Trung Hoa phụ sản khoa tạp chí 1959, 3:193).

Năm 1978, Phó Đức Thuần, Lê Đức Thọ và cộng sự (Tạp chí Đông y, 153, 23-30) đã nghiên cứu độc tính hoạt chất của vỏ nước xoan do Đỗ Tất Lợi và cộng sự đã chiết được và đi tới những kết luận sau đây:

Liều DL-50 cùa hoạt chất có phản ứng nhựa (đặt tên là melia 1) trên chuột nhắt sau 40 phút đầu tiên là 1,491g/kg, sau 24 giờ là 1,356g/kg và sau 48 giời là 1,277g/kg, của hoạt chất có phản ứng của ancaloit (đặt tên là melia 2) là 4,375g/kg (sau 24 giờ) và 4,077g/kg (sau 48 giờ). Nếu so với DL-50 của santonin trong cùng điều kiện thí nghiệm là 0,485g/kg (sau 24 giờ) và 0,444g/kg (sau 48 giờ) thì melia 1 độc hơn melia 2 từ 3 đến 5 lần, và ít độc hơn satonin từ 2 đến 8 lần. Nếu so sánh liều DL-50 trung bình sau 24 giờ của melia 1 với liều thường dùng trên người đổ tẩy giun (lg đối với người lớn 50kg tức là 0,02g/kg) thì ta thấy biên độ an toàn của thuốc rất lớn: 1,277/0,02: 63,85 (hơn 60 lần). Điều này thể hiện trong việc sử dụng thăm dò hoạt chất này trong 8 năm (từ 1970 đến 1978) chưa thấy gây ra tác dụng phụ nào đáng kể, trong khi qua tài liệu cồng bố của Trung y viện Trùng Khánh (Trung Quốc) có tới 40% bệnh nhân uống thuốc xoan thấy choáng váng, buồn ngủ, mặt đỏ nhưng chóng hết.

Trên súc vật chết sớm (sau 40 phút) mổ ngay thấy tình ưạng xung huyết ở các phủ tạng. Gan thoái hóa mỡ nhẹ, có súc vật không thấy có biến đổi gì ngoài tình trạng xung huyết. Trên chuột mổ để xét nghiệm sống sau 72 giò thấy có tổn thương ở gan, thận, ruột. Gan thoái hóa mỡ, ruột có đoạn quá sản, lớp liên bào trên mặt ranh giới.

Trên tim ếch cô lập từ nồng độ 1-5% meli làm giảm biên độ co bóp của tim có tần số không thay đổi. Nồng độ 5% làm ngừng co bóp tim.

Trên mạch ếch cô lập, melia 1 từ nồng đ< l%..làm giảm mạch rõ rệt, ở nồng độ 1% làn giãn mạch nhiều nhất.

Trên huyết áp hô hấp thỏ, ở nồng độ 1% - 7%, chưa thấy biến đổi rõ hô hấp nhưng trêi huyết áp các sóng có nhiều biến đổi rõ rệt, nhưng đến nồng độ 1-3% huyết áp có hạ nhưng không đáng kể và biểu hiện rõ rệt nhất là hô hấp giản dần rồi ngừng. Nồng độ 1%, thỏ đã khó thở, có những cơn ngừng thờ kéo dài, đến nồng độ 3% thỏ ngừng thở rồi chết. Trên thí nghiệm huyết áp hô hấp đưa thuốc vào bằng đường uống, với liều 1g/kg mới xuất hiện các triệu chứng bệnh lý đã gặp ở thí nghiệm tiêm thuốc vào tinh mạch nhưng ở thí nghiệm uống, triệu chứng ức chế hô hấp vẫn sớm hơn, mạnh hơn so với triệu chứnp hạ huyết áp. Kết quả thực nghiệm trên súc vậi đã phần nào giải thích cơ chế gây độc trên lâm sàng: mặt đỏ bừng, buồn ngủ, mệt xỉu, chân tay bủn rủn,...và hiệu quả của phương pháp cấp cứu ngộ độc bằng cafein, niketamìt và một số thuốc khác trong những công trình cấp cứu ngộ độc xoan ở trong và ngoài nước.

Tác dụng kích ứng niêm mạc ruột và tác dụng tích lũy làm ảnh hường xấu đến gan cần chú ý để tránh dùng kéo dài.

Công dụng và liều dùng

Vỏ rễ và vò thân xoan được nhân dân ta dùng chữa giun từ lâu đời nhưng vì có độc mà liềt lượng dùng thường thiếu chính xác cho nên tuy có nhiều kết quả tốt nhưng cũng đã gây ra mội số vụ ngộ độc.

Cho nên gần đây ở nưốc ta hầu như không thấy sử dụng chữa giun, nhưng tại Trung Quốc, Mỹ, nhân dân dùng vỏ xoan làm thuốc chữa giun kim và giun đũa.

Muốn phục hồi lại việc dùng vỏ xoan chữa giun cần chú ý tới liều lượng và cách chế biến sao cho tiện dùng. Tránh sử dụng bừa bãi tự động dễ gây những tai hại đáng tiếc.


Bài xem nhiều nhất

Sử quân tử

Cây sử quân mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miềm Trung Việt Nam. Tại các tỉnh, nhất là thành phố, một số gia đình trồng làm cảnh vì cây xanh tốt quanh năm, hoa đỏ đẹp.

Cây bách bộ

Nghiên cứu tác dụng dược lý, người ta đã chứng minh kinh nghiệm của ông cha ta dùng bách bộ để chữa ho, chữa giun và diệt sâu bọ là đúng.

Cây keo dậu

Cây keo dậu mọc hoang và được trồng khắp nơi trong Việt Nam để làm hàng rào, làm phân xanh bóng mát. Trâu bò rất thích ăn lá cây này. Khi quả chín lấy về đập lấy hạt phơi hay sấy khô.

Cây xoan

Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dừng sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác.

Cây thạch lựu

Dù với liều điều trị khi dùng thuốc, bệnh nhân cần phải nằm yên trong phòng tối để tránh mọi ảnh hưởng không tốt của thuốc. Thường phối hợp với tanín để tránh tác dụng thuốc quá mạnh.

Cây cau

Dung dịch hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, làm cho tê bại các cơ trơn của sán, 20 phút sau khi thuốc vào tới một, con sán bị tê liệt và không bám vào thành một được nữa.

Hạt bí ngô

Bóc hết vỏ cứng của hạt bí ngô, để nguyên màng xanh ở trong. Người lớn dùng 100g nhân, giã nhỏ trong cối, có thể dùng 50-60ml nước để tráng sạch cối, thêm vào 50-100g mật hay xirô hoặc đường và trộn đều.

Cây dầu giun

Cây mọc dại từ đầu mùa xuân đến giữa mùa hè thì ra hoa kết quả. Đến tháng 8 tháng 9, quả chín hạt rụng xuống đắt. Rồi cây bị đất phù sa tràn ngập, thối chết, những hạt bị vùi xuống đất đến mùa xuân lại mọc lên.

Cây quán chúng

Trong sách vở, người ta mô tả, quán chúng là một thứ cây mọc ở khe núi, hình giống đuôi chim chả, da đen, thịt đỏ.

Cây mắc nưa

Mắc nưa cũng như cây mun chủ yếu được trồng để lấy gỗ và lấy quả làm thuốc nhuộm màu đen. Quả có thể dùng tươi hay khô, nhưng chủ yếu là tươi.

Cây thùn mũn

Chưa có tài liệu nghiên cứu, nhưng nhân dân dùng làm thuốc chữa giun sán, không thấy có hiện tượng độc, chỉ hơi say say.

Cây chân bầu

Nhân dân miền Nam và Campuchia thường dùng quả làm thuốc chữa giun đũa, dùng phối hợp với lá mơ tam thể Paederia tomentosa. Thái nhỏ hai thứ trộn đều thêm bột và nước làm bánh ăn vào sáng sớm lúc đói.

Cây rùm nao

Các hạch và lông hứng được là một thứ bột mịn, màu đỏ tươi hay đỏ nâu, không mùi, không vị, đốt cháy rất mau, nổi lên mặt nước, nước có màu vàng sau đó bột chìm xuống.