Hồng, cây thuốc giáng nghịch hạ phong

Ngày: 2017-11-15

By member of dieutri.vn

Tai Hồng có vị đắng chát, tính bình, có tác dụng giáng nghịch hạ phong, hạ khí, ấm trung tiêu, Quả Hồng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng nhuận phế

Hồng - Diospyros kaki L.f. thuộc họ Thị - Ebenaceae.

Mô tả

Cây gỗ lớn cao tới 15m. Lá mọc so le, hình trứng hay trái xoan, dài 6 - 18cm, rộng 3 - 9cm, đầu có mũi lồi ngắn, gốc lá nhọn đầu, mặt trên lá màu lục sẵm, mặt duới có lông tơ nhạt. Hoa đực mọc chụm lại thành xim ở nách lá, có 2 lá bắc, 14  - 24 nhị, thường là 16. Hoa cái mọc đơn độc, đài xẻ 4 thuỳ, bầu có 4 vòi nhuỵ và 4 ô, thường có vách giả chia làm 8 ngăn. Quả mọng 3,5 - 8cm, nhẵn, khi chín màu vàng hay đỏ, mang đài tồn tại và không gập xuống. Hạt dẹt, màu nâu vàng.

Hoa tháng 4 - 6 và quả tháng 8 - 10.

Bộ phận dùng

Tai Hồng - Calyx Kaka; là phần đài còn dính vào quả khô, thường gọi là Thị đế. Quả Hồng, nước ép từ quả và chất đường trong quả cũng được sử dụng.

Nơi sống và thu hái

Nguyên sản ở Nhật Bản và Trung Quốc. Ở Việt Nam có trồng ở nhiều nơi vùng đồng bằng và vùng núi. Có nhiều chủng đuợc ưa thích nhất là Hồng Lạng Sơn (Hồng vuông) với quả hình cầu. Khi chín màu vàng lục thịt dòn; Hồng Hạc ở Hạc Trì, tỉnh Vĩnh Phú có vỏ mỏng không hạt, ruột đỏ da cam. Ta thu hoạch quả Hồng vào tháng 9 - 10, lấy quả ăn, thu lấy tai Hồng phơi hay sấy khô. Còn quả Hồng hái về, moi hạt ép bẹp, ngày phơi hay sấy, đêm phơi sương tới khô, cho vào hộp, đến khi vỏ ngoài có mốc trắng, lấy ra sấy ở nhiệt độ 50-60 độ tới khô.

Thành phần hóa học

Trong tai Hồng có các thành phần sau: acid oleanolic, acid ursolic, acid syringic, acid vanillic, sitosteryl-ũ-glucoside, trifolin, hyperin và kaempferol. Quả Hồng chứa 88 - 90% nước, 0,7 - 0,9% protid, 0,2 - 8,6% glucid, 10mg% calcium, 19mg% phosphor, 0,16% caroten, 16mg% vitamin C.

Tính vị, tác dụng

Tai Hồng có vị đắng chát, tính bình; có tác dụng giáng nghịch hạ phong, hạ khí, ấm trung tiêu. Quả Hồng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng nhuận phế, trừ đờm, khỏi ho, sinh tân dịch.

Công dụng, chỉ định và phối hợp

Tai Hồng dùng trị ho, nấc, đi đái đêm, ăn không tiêu đầy bụng, đau bụng hàn. Ngày dùng 4,5 - 9g, dạng thuốc sắc hay bột. Quả Hồng dùng làm thuốc bổ chữa suy nhược, suy dinh dưỡng, chứng ăn vào nôn ra. Ngày ăn 6 - 12g, hoặc ngâm rượu uống (Hồng khô 3 quả cả tai, giã nát ngâm trong 500ml rượu 40 độ).

Người ta còn dùng: 1. Nước ép từ quả Hồng phơi khô hay sấy khô - Succus Kaki siccatus, thường gọi là Thị tất, dùng chữa bệnh cao huyết áp; 2. chất đường trong quả Hồng - Sacccharum Kaki, thường gọi là Thị sương. Khi làm mứt Hồng, chất đường tiết ra, ta thu lại cho vào nồi đun lửa nhẹ. Khi thành đường thì đổ vào khuôn, phơi hay sấy ở nhiệt độ 40 - 45 độ cho se, dùng dao cắt, rồi phơi khô hẳn. Người ta dùng chất đường này chữa đau khô cổ họng, ho.