Cây san sư cô

11/09/2015 13:15
Theo tài liệu cổ San sư cô có vị đắng, tính lạnh, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chủ trị yết hầu sưng đau, ho nhiệt mất tiếng

Còn có tên là tam thạch cô, thanh ngưu đởm, cửu ngưu đởm, kim chư đởm, sơn từ cô, củ gió.

Tên khoa học Tinospora sagittata (Oliv.) Gagnep.

Thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.

Mô tả cây

 

Cây san sư cô

San sư cô là tên đồng bào Mèo vùng chợ Mường Khương (Lào Cai) thường gọi cây này. Đày là một loại dây leo, sống nhiều năm, luôn xanh tươi, thân dài từ l-4m. Thân rễ dưới đất có thể mọc dài tới 1,5m, thỉnh thoảng phình to lên từng đốt hình củ tròn to bằng ngón tay cái, có khi thành một *dãy gồm 5 đến 9 củ, màu vàng nhạt, khi cắt có màu hơi trắng, vị đắng. Thân trên mặt đất màu xanh lục nhạt, khi non có lông ngắn. Lá đơn, mọc cách, cuống lấ dài 2-5cm, phiến lá hình mác nhọn, gốc lá hình chữ V, phiến lá dài 5-15cm, rộng 2-5cm. Hoa đực, cái khác gốc, hoa đực mọc thành chùm nhiéu hoa có cuống dài 2-5cm, hoa cái cũng mọc thành chùm gồm 4 đến 10 hoa. Quả ưòn, cuống quả có đầu phình ra, quả chín có màu hổng đỏ. Mùa hoa: Tháng 3 đến tháng 5, mùa quả vào tháng 11-12.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang ở một số tỉnh miền núi cao mát như Lào Cai (Mường Khương), Hoà Bình (Ba Vì).

Thường thu hái quanh năm, đào lấy củ về rửa sạch, phơi sấy khô. Khi dùng thái mỏng sắc uống hay dã nát dấp bên ngoài.

Thành phần hóa học

Trong củ san sư cỏ có chất columbin, Hoạt chất khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ San sư cô có vị đắng, tính lạnh, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chủ trị yết hầu sưng đau, ho nhiệt mất tiếng. Dùng ngoài đắp những mụn nhọt sưng đau.

Nhân dân thường dùng chữa ly, ỉa chảy dưới dạng thuốc sắc, với liều 3 đến 6g (2 đến 3 củ) trong một ngày. Còn dùng chữa trâu bò đầy trướng, viêm ruột, tả lỵ.

Dùng ngoài dã nát đắp lên nơi sưng đau.

Chú thích:

Tên sơn từ cồ chính ra chì dùng để gọi tôn một vj thuốc họ Lan (Orchidaceae).