Điện tâm đồ chẩn đoán nhịp thoát vùng bộ nối


Ngày: 29 - 9 - 2013

(Trà My - Phương phương) Trong điều kiện bình thường, khởi tạo nhịp tim bị đàn áp bởi các xung động nhanh hơn từ trên xuống (tức là nhịp xoang). Nhịp thoát bộ nối và nhịp thoát thất phát sinh khi tốc độ xung nhịp trên thất khi đến nút nhĩ thất .

Định nghĩa

Nhịp bộ nối với tần số 40 - 60 bpm.

Phức bộ QRS hẹp (< 120 mili giây).

Không có mối quan hệ giữa các phức bộ và bất kỳ hoạt động tâm nhĩ trước (ví dụ như sóng P, sóng chập chờn, sóng rung).

Cơ chế

Các tế bào điều hòa nhịp tim được tìm thấy tại các địa điểm khác nhau trên toàn hệ thống dẫn truyền, với mỗi nơi có khả năng độc lập duy trì nhịp tim. Tần số khử cực tự phát của các tế bào điều hòa nhịp tim giảm xuống theo hệ thống dẫn:

Nút xoang (SA) (60 - 100 phút).

Tâm nhĩ (< 60 phút).

Nút nhĩ thất (40 - 60 phút).

Tâm thất (20 - 40 phút).


Trong điều kiện bình thường, khởi tạo nhịp tim bị đàn áp bởi các xung động nhanh hơn từ trên xuống (tức là nhịp xoang). Nhịp thoát bộ nối và nhịp thoát thất phát sinh khi tốc độ xung nhịp trên thất khi đến nút nhĩ thất hoặc tâm thất ít hơn so với tần số khởi tạo của điểm tạo nhịp lạc chỗ.

Nguyên nhân

Điều kiện dẫn đến sự xuất hiện của nhịp thoát bộ nối hoặc thất bao gồm:

Nhịp tim chậm xoang nghiêm trọng.

Ngừng xoang.

Block đường ra xoang nhĩ.

Block AV cấp 2 độ cao.

Block AV cấp 3.

Tăng kali máu.

Các loại thuốc: thuốc chẹn bêta, chẹn kênh canxi hoặc ngộ độc digoxin. 

Ví dụ ECG

Rung nhĩ với mức block AV độ 3 và nhịp thoát vùng bộ nối ("AF đúng quy tắc ").


Điện tâm đồ cho thấy:

Rung nhĩ thô (thường xuyên với phức bộ nhĩ ở mức > 400 bpm).

Thường xuyên phức bộ QRS hẹp 60 bpm.

Sự kết hợp của rung nhĩ với một nhịp đều đặn ("AF đúng quy tắc ") chỉ ra rằng không có xung tâm nhĩ dẫn đến các tâm thất, tức là block AV hoàn toàn.

Do đó nhịp với phức bộ hẹp là nhịp thoát nhịp nối.

AF thường xuyên là đặc trưng được xem như là hệ quả của ngộ độc digoxin. 

Thuật ngữ của nhịp bộ nối

Nhịp chậm bộ nối  = nhịp bộ nối với tốc độ < 40 bpm.

Nhịp bộ nối = nhịp bộ nối với tốc độ 40 - 60 bpm.

Nhịp bộ nối gia tốc = nhịp bộ nối 60 - 100 bpm.

Nhịp tim nhanh bộ nối  = nhịp bộ nối > 100 bpm.


Bài xem nhiều nhất

Giải thích điện tâm đồ (ECG) nhi khoa (trẻ em)

(Trà My - Phương Phương) Sự thống trị tâm thất phải của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ được dần dần thay thế bởi sự thống trị thất trái, để đến 3 - 4 tuổi điện tâm đồ ở trẻ em tương tự như của người lớn.

Điện tâm đồ chẩn đoán thiếu máu cục bộ cơ tim

(Trà My - Phương Phương) ST chệnh xuống đi ngang hoặc downsloping ≥ 0,5 mm tại điểm J trong ≥ 2 đạo trình tiếp giáp chỉ ra thiếu máu cục bộ cơ tim.

Điện tâm đồ chẩn đoán hội chứng Brugada

(Trà My - Phương Phương) hội chứng Brugada là do đột biến ở gene kênh natri tim. Điều này thường được gọi là channelopathy natri. Hơn 60 đột biến khác nhau đã được mô tả cho đến nay và ít nhất 50% là đột biến tự phát.

Điện tâm đồ chẩn đoán ngoại tâm thu nhĩ (PAC) (nhịp nhĩ lạc chỗ, sớm)

(Trà My - Phương Phương) Các sóng P bất thường có thể được ẩn trong, trước sóng T, tạo ra "đỉnh" hay " bướu lạc đà " xuất hiện - nếu điều này không được đánh giá là PAC có thể bị nhầm lẫn với PJC.

Điện tâm đồ chẩn đoán block nhĩ thất (AV) cấp 1

(Trà My - Phương Phương) Block nhĩ thất rõ ràng (khoảng PR > 300 ms, sóng P được ẩn trong các sóng T trước).

Các dạng đoạn ST của điện tâm đồ

(Trà My - Phương Phương) Viêm màng ngoài tim gây ST chênh lõm với đoạn PR chênh xuống trong nhiều chuyển đạo - thường DI, II, III, aVF, aVL và V2 - 6. Có đối ứng ST chênh xuống và PR cao trong chuyển đạo aVR và V1.

Điện tâm đồ chẩn đoán rung nhĩ (AF)

(Trà My - Phương Phương) Các cơ chế cơ bản của AF không hoàn toàn hiểu nhưng nó đòi hỏi một sự kiện bắt đầu (ổ hoạt động tâm nhĩ / PAC) và bề mặt để duy trì (tức là giãn tâm nhĩ trái).

Điện tâm đồ chẩn đoán block nhánh trái (LBBB)

(Trà My - Phương Phương) Khi các tâm thất được kích hoạt liên tục (bên phải, sau đó bên trái) chứ không phải cùng một lúc, điều này tạo ra sóng R rộng hoặc ghi được (hình 'M') của các đường dẫn bên.

Điện tâm đồ chẩn đoán hội chứng tiền kích thich

(Trà My - Phương Phương) Con đường phụ, còn được gọi là những vùng bắc cầu, xu hướng dẫn đường bất thường hình thành trong phát triển tim và có thể tồn tại trong một loạt các điểm giải phẫu và trong một số bệnh nhân có thể có nhiều con đường.

Điện tâm đồ chẩn đoán block nhánh phải (RBBB)

(Trà My - Phương Phương) Kích hoạt thất phải bị trì hoãn tạo ra sóng R thứ cấp (R') trong các đạo trình trước tim phải (V1 - 3) và sóng S rộng, móc của các đạo trình bên.

Các dạng sóng T của điện tâm đồ

(Trà My - Phương Phương) Sóng T rộng, không đối xứng có đỉnh hay 'hyperacute' được nhìn thấy ST cao trong giai đoạn đầu của MI (STEMI) và thường đi trước sự xuất hiện của ST chênh lên và sóng Q. Cũng thấy trong đau thắt ngực Prinzmetal.

Điện tâm đồ chẩn đoán phì đại tâm thất trái (LVH)

(Trà My - Phương Phương) Thường được sử dụng nhất là tiêu chí Sokolov Lyon (độ sâu sóng S ở V1 + chiều cao sóng R cao nhất trong V5 - V6 > 35 mm).

Điện tâm đồ chẩn đoán block nhĩ thất (AV) cấp 3 (hoàn toàn)

(Trà My - Phương Phương) Bệnh nhân có block AV cấp ba có nguy cơ cao ngừng thất và đột tử do tim. Yêu cầu nhập viện khẩn cấp để theo dõi tim, tạo nhịp tạm thời và thường chèn máy tạo nhịp tim vĩnh viễn.

Điện tâm đồ chẩn đoán block nhĩ thất (AV) cấp 2 Mobitz II

(Trà My - Phương phương) Trong khi Mobitz I thường là do ức chế của chức năng dẫn AV (ví dụ như do thuốc, thiếu máu cục bộ có đảo chiều), Mobitz II có nhiều khả năng là do cấu trúc bị thiệt hại của hệ thống dẫn (ví dụ như nhồi máu, xơ, hoại tử).

Các dạng sóng P của điện tâm đồ

(Trà My - Phương Phương) Bất thường tâm nhĩ có thể dễ dàng thấy nhất trong các chuyển đạo (II, III, aVF) và chuyển đạo V1, sóng P là nổi bật nhất trong những chuyển đạo này.

Xem theo danh mục