Bài giảng bệnh ho gà (Pertussis)


Ngày: 3 - 11 - 2012

Vi khuẩn tiết ra nội độc tố (Pertussis toxin) gồm hai loại: Chịu nhiệt và không chịu nhiệt, có yếu tố làm tăng lympho bào (LPF), yếu tố nhạy cảm với histamine (HSF), ngưng kết tố FHA.

Định nghĩa

Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn ho gà gây nên. Bệnh lây theo đường hô hấp, biểu hiện lâm sàng bằng những cơn ho dữ dội, đặc biệt và có nhiều biến chứng.

Nhờ có vacxin phòng bệnh, tỉ lệ mắc bệnh đã giảm hẳn nhưng tử vong còn cao, nhất là lứa tuổi sơ sinh.

Lịch sử nghiên cứu

Bệnh được mô tả đầu tiên từ những năm 1640, được gọi là Ho gà bởi những cơn ho rũ rượi, thở rít vào. Trực khuẩn ho gà được Bordet-Gengou phân lập năm 1990.

Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Năm 1997, toàn thế giới có trên 45 triệu ca bệnh và 409.000 người tử vong.

Dịch tễ học

Mầm bệnh

Trực khuẩn ho gà thuộc họ Pavrobacteriaceae.

Là trực khuẩn gram âm, hai đầu nhọn, kích thước 0,3-0,5 ´ 1-1,5mm, ưa khí, không di động, không sinh nha bào. Vi khuẩn kém chịu đựng với nhiệt độ, dưới ánh sáng mặt trời chết sau 1 giờ, ở nhiệt độ 55°C chết sau 30 phút.

Vi khuẩn tiết ra nội độc tố (Pertussis toxin) gồm hai loại: Chịu nhiệt và không chịu nhiệt, có yếu tố làm tăng lympho bào (LPF), yếu tố nhạy cảm với histamine (HSF), ngưng kết tố FHA.

Nguồn bệnh

Là những bệnh nhân bị bệnh ho gà. Bệnh lây lan mạnh nhất trong 1-2 tuần đầu của bệnh. Cho đến nay vẫn chưa xác định có người lành mang khuẩn.

Đường lây

Khả năng lây lan của bệnh rất cao. Bệnh lây theo đường hô hấp, do vi khuẩn có trong những hạt nước bọt bắn ra từ mũi, miệng bệnh nhân khi ho, hắt hơi trực tiếp sang người lành. Phạm vi lây trong khoảng dưới 3 mét.

Cơ thể cảm thụ

Mọi lứa tuổi, giới, dân tộc, vùng địa lý đều có thể bị ho gà, nhưng chủ yếu là trẻ em 1-6 tuổi. Trẻ càng ít tuổi bệnh càng nặng.

Sau khi bị bệnh ho gà bệnh nhân có miễn dịch bền vững suốt đời, rất hiếm khi mắc lại. Bệnh thường xảy ra quanh năm, mang tính lưu hành địa phương.

Bệnh ho gà vẫn tồn tại trên khắp thế giới và có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý

Cơ chế bệnh sinh

Độc tố của vi khuẩn (Pertussis toxin - Ptx) kích thích trực tiếp vào các thụ cảm thần kinh của niêm mạc đường hô hấp gây ra các cơn ho điển hình, mặt khác tác động lên hệ thần kinh trung ương ảnh hưởng trực tiếp đến trung khu hô hấp ở hành tuỷ, gây ra những biểu hiện rối loạn hô hấp, nếu nặng có thể ngừng thở. Độc tố còn có thể gây ra những ổ hưng phấn ở trung khu hô hấp, kết quả là tạo ra những cơn ho phản xạ kéo dài. Sự lan truyền của độc tố ở hệ thần kinh trung ương có thể dẫn tới biểu hiện viêm não - một biến chứng nặng của bệnh ho gà.

Những thương tổn ở phổi: Chủ yếu do độc tố của vi khuẩn gây viêm cấp tính đường hô hấp và kích thích niêm mạc tăng tiết nhầy. Thương tổn chủ yếu ở phế quản và các tiểu phế quản.

Tổn thương giải phẫu bệnh lý

Những tổn thương chủ yếu trong bệnh ho gà là:

Co thắt các phế quản và tiểu phế quản. Niêm mạc khí - phế quản bị tổn thương tại chỗ và có hiện tượng tăng tiết các dịch nhầy.

Trong lòng các phế nang xuất hiện nhiều dịch và các mô bào, thành xung huyết.

Có thể thấy hiện tượng phù nề ở tổ chức não và tổn thương các tế bào thần kinh.

Lâm sàng

Phân chia thể lâm sàng

Theo lứa tuổi

Ho gà ở trẻ sơ sinh: Thường diễn biến nặng, tỷ lệ tử vong cao.

Ho gà ở người lớn: Ít gặp. Biểu hiện lâm sàng thường nhẹ, ho dai dẳng nhưng thở vào không rít lắm, ít nôn.

Theo mức độ

Thể thô sơ: Không ho, chỉ hắt hơi nhiều.

Thể nhẹ: Cơn ho nhẹ, ngắn và không điển hình, không khạc đờm nhiều. Thường gặp ở trẻ em đã tiêm vacxin phòng ho gà nhưng kháng thể thấp và tồn lưu ngắn. Thể này thường khó chẩn đoán.

Thể điển hình: Có các cơn ho điển hình, đắc biệt.

Triệu chứng học thể lâm sàng thông thường điển hình

Thời kỳ nung bệnh: 2-30 ngày (trung bình 5-12 ngày).

Thời kỳ khởi phát (hay còn gọi giai đoạn xuất tiết, giai đoạn viêm long): Thường từ 3-14 ngày với các biểu hiện.

Sốt nhẹ, từ từ tăng dần.

Các triệu chứng viêm long đường hô hấp: Ho khan, hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng, dần dần chuyển thành ho cơn.

Thời kỳ toàn phát (hay giai đoạn co thắt, giai đoạn ho cơn)

Kéo dài 1-2 tuần. Xuất hiện những cơn ho gà điển hình, xảy ra bất chợt, vô cớ, cả ngày và đêm, ho nhiều về đêm. Cơn ho diễn biến qua 3 giai đoạn: Ho, thở rít vào và khạc đờm.

Ho: Ho rũ rượi, thành cơn, mỗi cơn từ 15-20 tiếng ho liên tiếp, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt nước mũi.

Thở rít vào: Xuất hiện cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi tiếng ho, trẻ thở rít vào nghe như tiếng gà rít.

Khạc đờm: Khi trẻ khạc đờm trắng, màu trong, dính như lòng trắng trứng là lúc kết thúc một cơn ho. Trong đờm có trực khuẩn ho gà.

Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt mỏi, có thể nôn, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Kèm theo có thể thấy một số triệu chứng sau: Sốt nhẹ hoặc hoặc không sốt, mặt và mi mắt nặng, loét hãm lưỡi, nghe phổi trong cơn ho có thể thấy một số ran phế quản (ran rít, ngáy).

Xét nghiệm

Số lượng bạch cầu máu ngoại vi tăng cao tới 20.000-30.000/mm3, trong đó chủ yếu là bạch cầu lympho (chiếm 60-80%).

Cấy nhầy mũi, họng tìm trực khuẩn (kết quả muộn, 7-14 ngày).

Quicker test DFA (direct immunoflourescent assay) của nhầy mũi họng.

Dùng phương pháp miễn dịch huỳnh quang cho kết quả nhanh nhưng tỷ lệ dương tính giả tới 40%.

PCR (polymerase chain reaction test).

X quang phổi: Có các bóng mờ đi từ rốn phổi tới cơ hoành. Ngoài ra có thể thấy phản ứng mờ góc sườn hoành, hình mờ đáy phổi hoặc hình ảnh xẹp phổi.

Thời kỳ lui bệnh và hồi phục

Kéo dài khoảng 2-4 tuần. Số cơn ho giảm dần, thời gian mỗi cơn ngắn lại, cường độ ho giảm, khạc đờm ít, sau đó hết hẳn. Tình trạng toàn thân tốt dần lên, trẻ ăn được và vui chơi bình thường.

Một số trẻ xuất hiện những cơn ho phản xạ kéo dài, thậm chí tới 1-2 tháng.

Chẩn đoán

Lâm sàng

Tuổi dễ mắc (1-6 tuổi), có cơn ho điển hình.

Xét nghiệm

Bạch cầu máu ngoại vi tăng cao, chủ yếu là bạch cầu lympho.

Cấy nhầy họng trong tuần đầu tìm vi khuẩn gây bệnh.

Dịch tễ

Nhiều trẻ cùng bị trong một tập thể.

Chẩn đoán phân biệt

Trong giai đoạn viêm long cần phân biệt với

Viêm khí phế quản co thắt: Thường khó thở về đêm, ho ít khạc đờm, hay có tiền sử dị ứng, bệnh hay tái phát.

Viêm khí phế quản, viêm phổi do virut: Ho không thành cơn, bạch cầu không tăng ở máu ngoại vi, bệnh diễn biến nhanh sau 7-10 ngày.

Trong giai đoạn ho cơn cần phân biệt với

Các nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi khuẩn như viêm phế quản, viêm phổi, viêm phổi - phế quản.

Lao hạch khí - phế quản trẻ em: Phát hiện qua chụp phổi, xét nghiệm đờm và làm phản ứng Mantoux.

Biến chứng

Biến chứng hô hấp

Viêm phế quản: Trẻ sốt cao, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy. Đặc biệt ở một số trường hợp có thể gặp khạc ra đờm, mủ. Bạch cầu đa nhân trung tính ở máu ngoại vi tăng cao.

Dãn phế quản: Thường là hậu quả của bội nhiễm phế quản - phổi. Thường khó phát hiện trên phim X quang thông thường. Trên phim chụp phế quản cản quang 50% trường hợp có dãn phế quản hình trụ hoặc hình ống, hình ảnh này sẽ hết khi khỏi bệnh ho gà.

Viêm phổi - phế quản: Là biến chứng hô hấp hay gặp, nhất là ở trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Bệnh nhân sốt cao, khó thở, nghe phổi có nhiều ran ẩm, ran nổ. X quang phổi có nhiều nốt mờ không đều rải rác 2 bên. Tử vong cao do suy hô hấp nếu không được điều trị kịp thời.

Biến chứng thần kinh

Viêm não là một biến chứng nặng của bệnh ho gà, tỷ lệ tử vong cao. Trẻ sốt rất cao, li bì, hôn mê, co giật. Nếu được cứu thoát có thể để lại di chứng như liệt nửa người, liệt một chi, liệt dây thần kinh so não hoặc rối loạn tâm thần.

Biến chứng cơ học: Lồng ruột, thoát vị, sa trực tràng. Trường hợp nặng có thể gặp vỡ phế nang, tràn khí trung thất hoặc tràn khí màng phổi.

Biến chứng khác: Xuất huyết võng mạc, kết mạc mắt, rối loạn nước điện giải, bội nhiễm các vi khuẩn khác

Điều trị

Kháng sinh đặc hiệu

Dùng một trong các loại sau:

Ampixilin 75-100 mg/kg/ngày x 7-10 ngày.

Erythromyxin 30-50 mg/kg/ngày x 7-10 ngày.

Một số biệt dược hay được sử dụng hiện nay: Eryenfant, erybactrim (liều dùng như erythromyxin) và rulid (Roxithromyxin) 5-8 mg/kg/ngày  ´ 7-10 ngày. clarithomycin (Biaxin), azithromycin (Zithromax) ´ 7-10 ngày

Điều trị triệu chứng

Giảm và cắt cơn ho

Dùng thuốc kháng sinh Histamin tổng hợp: Dung dịch dimedron 0,1% uống 5-10 ml/lần ´ 2 - 3 lần/ngày hoặc siro phenergan 10-20ml/ngày.

Seduxen 1-2 mg/kg/ngày hoặc gacdenal 2-3 mg/kg/ngày.

Một số thuốc ho được sử dụng cho người lớn như codein, rượu benladon không dùng cho trẻ em. Có thể dùng siro ho gà đông y hoặc một trong các biệt dược sau: Antitus, antussin, solmux broncho hoặc theralen 10-20 ml/ngày.

Khi có nôn nhiều: Dùng primperan 0,5-1 ml/ngày.

Khi có khó thở: Móc, hút đờm dãi, cho thở oxy.

Trợ tim mạch: Coramin 0,25% ´ 20 - 30 giọt/ngày.

Khi có biến chứng

Nếu là biến chứng đường hô hấp do bội nhiễm: Dùng kháng sinh đường tiêm theo kháng sinh đồ hoặc phác đồ thường được chọn là lincocin + gentamyxin, Cephalosporin + gentamyxin. Nếu có sốt cao co giật dùng gacdenal hoặc aminazin.

Nếu biến chứng viêm não: Tích cực chống phù não, đề phòng và cắt cơn co giật. Việc sử dụng Corticoid trong điều trị viêm não vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất.

Nuôi dưỡng - săn sóc

Cho trẻ ăn nhiều bữa. Nếu nôn nhiều có thể phải cho ăn quan Sonde hoặc nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.

Đặt trẻ ở nơi thoáng mát, tránh gió lùa.

Dùng thêm các vitamin A, D,C, B1, B6.

Theo dõi sát tình trạng mạch, hô hấp.

Dùng Gamma globulin đặc hiệu trong thời kỳ đầu của bệnh, tiêm dưới da 2-3 ml/lần mỗi lần cách nhau 48 giờ (tổng liều 2-4 lần).

Phòng bệnh

Phòng bệnh chung

Để phòng bệnh cho tập thể, cần phải cách ly những trẻ bị ho gà trong thời gian ít nhất 4 tuần kể từ khi có cơn ho điển hình. Những trẻ tiếp xúc phải được tiêm Gamma globulin đặc hiệu 0,3 ml/kg/lần, tiêm 2 lần cách nhau 48-72 giờ (tác dụng bảo vệ chống ho gà đạt 60% theo Combe và Fauchier), trong đó đặc biệt chú ý những trẻ sơ sinh và trẻ suy dinh dưỡng. Ngoài ra, có thể dùng erythromyxin để phòng ho gà cho những trẻ em tiếp xúc với bệnh nhân.

Đặc hiệu

Vacxin ho gà đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. ở nước ta, ho gà được xếp vào một trong 6 bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em.

Hiện nay thường dùng là vacxin kết hợp ho gà, bạch hầu, uốn ván (DTaP). Trẻ sơ sinh tiêm vacxin vào 3 thời điểm: 2-4-6 tháng tuổi. Tiêm nhắc lại sau 1 năm, 3 năm và 5 năm.

Vacxin cho bệnh nhân 10-18 tuổi là Boostrix, 11-64 tuổi là Adacel.
 


Bài xem nhiều nhất

Bài giảng uốn ván (Tetanus)

Những vết thương có tình trạng thiếu ôxy do: Miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức bị hoại tử nhiều, thiếu máu, có dị vật ở vết thương, có vi khuẩn gây mủ khác kèm theo... tạo thuận lợi cho nha bào uốn ván phát triển gây bệnh.

Bài giảng bệnh quai bị (parotitis epidemica)

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp

Bài giảng nhiễm HIV, AIDS

HIV là một Retrovirut họ Lentiviridae. Hiện nay đã phát hiện được HIV-1 (phân lập đầu tiên năm 1983) và HIV-2 (phân lập đầu tiên năm 1985). HIV có axit nhân là ARN. Hiện nay trên thế giới HIV-1 là phổ biến.

Bài giảng lỵ trực khuẩn (shigellosis)

Các shigella đều có độc ruột( enterotoxin) là ShET-1 và ShET-2 chúng làm thay đổi sự vận chuyển  điện giải ở các tế bào niêm mạc đại tràng, gây tăng tiết dịch.

Bài giảng sốt xuất huyết Dengue (Febris hacmorrhagica Dengue)

Các virut Dengue có nhiều kháng nguyên, có kháng nguyên đặc hiệu của typ, có nhữngkháng nguyên chung của phân nhóm và nhóm. Cả 4 typ huyết thanh virut Dengue có họ hàng với nhau phản ứng chéo nhau.

Bài giảng thương hàn (Typhoid Fever)

Salmonella có sức sống và sức đề kháng tốt. Trong canh trùng, trong đất có thể sống được vài tháng, trong nước thường: 2-3 tuần, trong nước đá: 2-3 tháng, trong phân: vài tuần.

Bài giảng viêm gan virut cấp (Acute Viral Hepatitis)

Do có nhiều loại virut viêm gan khác nhau (HAV, HBV, HCV, HDV, HEV), các virut này thuộc các họ virut khác nhau, đường lây khác nhau, khả năng gây bệnh, tiến triển của bệnh v.v... khác nhau.

Bài giảng bệnh do amip (amebiasis)

Thể hoạt động nhỏ (Entamoeba histolytica forma minuta) sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động 8-25 micromet chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu.

Đại cương về bệnh truyền nhiễm (Introduction to infectious diseases)

Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch). Do vậy số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn.

Bài giảng thuỷ đậu (Varicella)

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.

Bài giảng bệnh dại (Rabies)

Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.

Bài giảng nhiễm khuẩn huyết (septicemia, sepsis)

Nhiễm khuẩn huyết G (-) thường ổ thứ phát từ: Đường tiêu hoá, tiết niệu sinh dục, mật, gan, thủ thuật bệnh viện: Catheter, mở khí quản, thẩm phân màng bụng.

Bài giảng bệnh tả (Cholera)

Phẩy khuẩn tả được đào thải theo phân ngay từ giai đoạn nung bệnh, nhưng nhiều nhất ở giai đoạn tiêu chảy. Bệnh nhân mắc bệnh tả có thể đào thải 107-108 vi khuẩn/ gram phân.

Bài giảng lâm sàng và chẩn đoán sốt rét thường

Ký sinh trùng sốt rét là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 4 loài ký sinh trùng sốt rét ở người: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. malariae; riêng P. malariae thấy ở cả những khỉ lớn châu Phi.

Bài giảng bệnh do leptospira (Leptospirosis)

Tổn thư­ơng gan trong leptospirosis gây triệu chứng vàng da. Nguyên nhân do tổn thư­ơng mạch máu nuôi dư­ỡng tế bào gan dẫn đến hoại tử tế bào và do độc tố xoắn khuẩn gây huỷ hồng cầu.

Xem theo danh mục