Bài giảng bệnh đậu mùa (Variola)

Ngày: 3 - 11 - 2012

Vi rút đề kháng tốt với dung dịch cồn Ether Phenol Glycerin và nước đá. Nhiệt độ trên 550C và các dung dịch Xanh Methylen, thuốc tím, tia cực tím bất hoạt vi rút đậu mùa nhanh chóng.


Định nghĩa

Bệnh đậu mùa là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, do vi rút đậu mùa (Variola virus) gây nên, lây chủ yếu qua đường hô hấp. Lâm sàng bệnh có hội chứng nhiễm khuẩn- nhiễm độc toàn thân nặng, ban từ dát sẩn đến phỏng nước và hoá mủ, để lại sẹo vĩnh viễn.

Bệnh đậu mùa dễ gây thành dịch lớn tỷ lệ tử vong cao nên được xếp vào nhóm “Bệnh tối nguy hiểm ”

Lịch sử nghiên cứu

Bệnh đậu mùa được biết đến từ nhiều năm trước công nguyên, các nước trung phi được coi là nơi phát hiện bệnh lần đầu tiên. Bệnh được mô tả trong y văn một cách rõ ràng vào thế kỷ thứ VII. Nhưng cho đến thế kỷ VIII – XVII mới có những nghiên cứu về căn nguyên gây bệnh, dịch tễ và miễn dịch của bệnh. Năm 1906 Paschen phát hiện được vi rút gây bệnh đậu mùa. Guarnieri năm 1891 cũng đã cho rằng căn nguyên gây bệnh là các “hạt” trong nguyên sinh chất của tế bào biểu mô.

Vacxin phòng bệnh đậu mùa được Jenner điều chế và sử dụng vào năm 1798

Dịch tễ học

Mầm bệnh

Vi rút đậu mùa (Variola Virus) thuộc họp Poxviridac có kích thước tới 300 micromet, ở ngoài môi trường thời tiết khô hanh vi rút sống dược rất lâu ở nhiệt độ từ 4-200C có thể sống được từ 3 đến 17 tháng. Trong môi trường thời tiết khô, thiếu ánh sáng mặt trời, thiếu ôxy không bị diệt trong nhiều năm, ở vảy đậu sống được một năm.

Vi rút đề kháng tốt với dung dịch cồn Ether Phenol Glycerin và nước đá. Nhiệt độ trên 550C và các dung dịch Xanh Methylen, thuốc tím, tia cực tím bất hoạt vi rút đậu mùa nhanh chóng.

Nguồn bệnh

Người là nguồn bệnh duy nhất, bệnh nhân là nguồn lây từ cuối thời kỳ nung bệnh cho đến khi mụn đậu tróc hết vảy. Thời gian lây bệnh mạnh nhất là lúc mụn đậu hoá mủ và bong vảy không có người lành mang vi rút đậu mùa

Đường lây

Lây chủ yếu qua đường hô hấp vi rút có trong nước bọt dịch mũi họng tung ra môi trường xung quanh khi bệnh nhân ho hắt hơi người lành hít phải khi tiếp xúc. Đây là đường lây trực tiếp

Lây gián tiếp qua các đồ vật không khí nhiễm bẩn mủ, vảy đậu, dịch tiết người lành hít phải cũng có khi do da bị xây xước mà người lành bị nhiễm bệnh

Cơ thể cảm thụ

Mọi người mọi chủng tộc mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Trẻ em dễ mắc bệnh nhất trẻ dưới 1 tuổi ít bị bệnh do có miễn dịch từ mẹ truyền cho, từ tháng thứ 2 thì miễn dịch giảm.

Sau khi mắc bệnh có miễn dịch bền vững. Giữa đậu mùa và ngừa đậu (đậu mùa ở bò) có miễn dịch chéo.

Dịch bệnh đậu mùa thường xảy ra vào mùa đông, khí hậu khô lạnh.

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) : Trường hợp đậu mùa cuối cùng đã được ghi nhận vào năm 1977 ở Somali. Năm 1980, WHO đã tuyên bố bệnh đậu mùa đã được tiêu diệt trên toàn thế giới nhờ có chương trình tiêm chủng Vacxin. Tuy nhiên vì tính chất nguy hiểm của bệnh nên những hiểu hết về bệnh cần được quan tâm.

Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý 

Cơ chế bệnh sinh

Vi rút đậu mùa từ cửa vào là niêm mạc đường hô hấp (hiếm gặp là qua da bị xước) theo đường bạch mạch vào máu khu trú ở các tế bào liên võng nội mô của tuỷ xương, lách, gan để phát triển và sinh sản. Vi rút xâm nhập vào máu lần thứ hai thì khu trú ở da, niêm mạc, thượng thận, não và các cơ quan khác gây nên tình trạng nhiễm độc nhiễm trùng nặng theo đó triệu chứng ban của bệnh.

Tổn thương giảI phẫu bệnh lý

Tổn thương đặc trưng ở da là thoái hoá nước ở lớp (Staatun Malpighii) tạo thành các nốt phổng chứa dịch tiết có nhiều ngăn do tổ chức liên kết không bị phá huỷ. Các nốt phổng có điểm lõm ở trung tâm dãn dần có quá trình xâm lấn bạch cầu hoại tử sâu tới lớp biểu bì tạo thành các nốt phổng chứa dịch đục, sau khi bong vảy để lại sẹo vĩnh viễn.

Tổn thương ở các cơ quan nội tạng khác nhau và không đặc trưng cho bệnh

Lâm sàng

Các thể lâm sàng của bệnh đậu mùa

Thể nhẹ.

Thể không điển hình.

Thể thông thường điển hình.

Đậu mùa dạng ban phẳng (Flat Typs).

Đậu mùa thể xuất huyết.

Đậu mùa thể thông thường điển hình

Thời kỳ nung bệnh

Trung bình từ 12- 13 ngày, ngắn nhất 5 ngày dài hơn là 15 ngày.

Thời kỳ khởi phát

Khởi phát đột ngột bằng sốt cao và rét run một cách tự nhiên, nhiệt độ 40- 410C mạch nhanh. Sau vài giờ bệnh nhân rất mệt đau đầu không chịu được chóng mặt ù tai hoa mắt đau bụng đau dọc sống lưng thắt lưng và cơ khớp khiến bệnh nhân phải nằm liệt giường kèm theo bí đái.

Bệnh nhân nôn liên tục đau thượng vị xung huyết da mặt và kết mạc mắt chảy nước mắt sợ ánh sáng, mắt long lanh vẻ sợ hãi. Bệnh nhân ho đau rát họng khó thở.

Xuất hiện “tiền ban” giống ban sởi ở bẹn, nách dưới vú. Sau 1-2 ngày “tiền ban” lặn hết.  “tiền ban” có ở 24- 40% bệnh nhân.

Thời kỳ toàn phát

Thời kỳ này mụn đậu mọc vì vậy còn gọi là thời kỳ ban mọc.

Mụn đậu mọc:

Ngày thứ 4 của bệnh nhiệt độ giảm bệnh nhân cảm thấy dễ chịu đồng thời xuất hiện các nốt dát (macula) màu hồng nhạt từ trên xuống. Đầu tiên ở trán, da đầu thái dương, mặt sau đó lan xuống cổ gáy tay ngực lưng, cuối cùng là chân. Sau 48 giờ ban mọc toàn thân càng xuống chân ban mọc càng thưa. Ban có đặc điểm của:

Lúc đầu là nốt dát sau một ngày nốt dát nổi gờ nên màu đỏ sẫm gọi là nốt sẩn (Papule), các nốt sẩn to dần lên bằng hạt đậu ăn sâu vào trong da. Ngày thứ 6 của bệnh các nốt sẩn trở thành nốt phỏng (Vesicule) chứa trong nước xung quanh có rìa đỏ, nốt phỏng có nhiều ngăn nên khi chọc kim vào thì không xẹp. Các nốt phổng hơi cứng một số nốt có lõm ở trung tâm.

Trên niêm mạc miệng, mắt mũi ruột cũng có ban xuất hiện như da các nốt phổng thủng vỡ để lại nốt loét có rìa đỏ, gây đau ho mất tiếng khạc đờm có mủ.

Mụn đậu hoá mủ:

Từ ngày thứ 7- 8 của bệnh: Các nốt phổng trở thành đục mủ, phù nề xung quanh, đỏ sẫm hơn, trung tâm mụn lõm xuống (lõm hậu phát).

Tổ chức dưới da phù nề làm hai mặt sưng húp. Quá trình mụn đậu hoá mủ cũng có thứ tự từ trên xuống dưới.

Toàn thân bệnh nhân lại nặng trở lại ban ngày sốt vừa, ban đêm sốt cao 400C, nhức đầu vật vã nói mê, mạch nhanh, huyết áp thấp, hơi thở có mùi hôi thối, khó thở, gan, lách to.

Mụn đóng vảy:

Từ ngày 12- 13 của bệnh mụn mủ khô đi và đóng vảy màu vàng nâu. Bệnh nhân thấy dễ chịu, nhiệt độ cơ thể giảm nhưng ngứa nhiều hơn. Quá trình mụn đậu đóng vảy cũng theo thứ tự trên xuống

Thời kỳ lui bệnh

Sau khi mọc được 20 ngày các vảy đậu bong dần để lại sẹo lõm màu nâu, sau vài tháng chuyển màu trắng bóng, sâu nhất ở mặt mũi trán…sẹo tồn tại suốt đời

Triệu chứng học các thể lâm sàng

Thể nhẹ

Thường gặp ở những bệnh nhân đã được tiêm chủng vacxin đậu mùa. Ban mọc thưa, không đủ các giai đoạn của nốt đậu. Bệnh nhân có ho, đau rát họng

Thể không điển hình

Lâm sàng chỉ có sốt, không có ban, chỉ có thể chẩn đoán được trong vụ dịch nhờ xét nghiệm đặc hiệu.

Thể thông thường điển hình

Chiếm tới 70% số bệnh nhân trong vụ dịch, thể này được chia ra ba thể:

Thể bán hội tụ: Ban mủ dày, tập trung thành đám ở mặt, rải rác ở các nơi khác, tử vong 37%. Ban rải rác mọc lẻ tẻ, xen kẽ giữa những vùng da lành. Tỷ lệ tử vong 9%

Đậu mùa dạng ban phẳng:

Ban mủ hội tụ hoặc bán hội tụ nhưng phẳng không lõm ở trung tâm, hay gặp ở trẻ em, tỷ lệ tử vong cao

Đậu mùa thể xuất huyết:

Thể này thường nặng hay gặp ở phụ nữ có thai, lâm sàng hay gặp xuất huyết trên da, niêm mạc kèm theo nhiễm độc toàn thân nặng.

Đậu mùa xuất huyết sớm (đậu mùa ác tính – Variola Fulinans): Tình trạng toàn thân nặng ngay từ ngày 2- 4 của bệnh, khi chưa mọc ban, phù nề mặt chân, xuất huyết dưới da, xuất huyết phủ tạng. Bệnh nhân tử vong ngay từ những ngày đầu của bệnh.

Đậu mùa xuất huyết muộn (đậu mùa xuất huyết thứ phát): Xuất huyết sau khi mụn đậu hoá mủ, các mụn đậu có thể chứa máu xuất huyết xung quanh.

Biến chứng

Thường gặp bội nhiễm vi khuẩn hoặc vi rút. Bội nhiễm do vi khuẩn hay gặp là phế quản phế viêm, áp xe ổ bụng, thanh quản, bệnh nhân sốt cao ho nhiễm đau tức ngực, khó thở dễ tử vong. Có thể gặp viêm tai giữa, viêm tai xương chũm nhiễm khuẩn huyết.

Bội nhiễm do virut: Viêm não viêm màng não- não, bệnh nhân có thể liệt tứ chi, liệt nửa người.

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng

Khởi phát đột ngột sốt cao có tiền ban.

Ban mọc có thứ tự từ mặt có thân mình, tứ chi ban tiến triển theo các giai đoạn, nốt dát nốt sẩn, phổng nước hoá mủ, đóng vảy. Trên cùng một vùng da ban có cùng một độ tuổi.

Ban bong vảy để lại sẹo vĩnh viễn.

Dấu hiệu toàn thân nặng.

Xét nghiệm

Phân lập vi rút: Trên môi trường mô và trong phôi bào đang phát triển, bệnh phẩm lấy từ ban mủ trên da và niêm mạc, dịch mũi, mắt và cả nước tiểu máu. Trả lời kết quả thường chậm sau 10- 15 ngày mới có kết quả

Phản ứng huyết thanh tìm kháng thể.

Soi tìm vi rút đậu mùa trên kính hiển vi điện tử, miễn dịch huỳnh quang

Dịch tễ

Bệnh lây theo đường hô hấp nên dễ thành dịch lớn, gặp ở người chưa được tiêm vacxin phòng bệnh đậu mùa

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt với bệnh thuỷ đậu: Khởi phát không rầm rộ, sốt nhẹ ban mọc không theo thứ tự, thành nhiều đợt, trên một vùng da các ban có độ tuổi khác nhau, ban bay không để lại sẹo.

Điều trị

Nguyên tắc điều trị

Phải chấp hành chế độ bệnh “tối nguy hiểm”.

Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

Chỉ điều trị triệu chứng như: Giải độc, giảm đau, chống truỵ tim mạch, bồi dưỡng cơ thể nâng cao sức đề kháng, điều trị mụn đậu đề phòng bội nhiễm và biến chứng.

Điều trị cụ thể

Gamaglobulin đặc hiệu : 3-6 ml tiêm bắp thịt. Tiêm nhắc lại hai lần.

Điều trị chống nhiễm trùng bội nhiễm: Phải dùng kháng sinh, tốt nhất theo kháng sinh đồ, phối hợp kháng sinh.

Bất động bệnh nhân, ăn lỏng ấm đủ dinh dưỡng, đủ sinh tố.

Giải độc: Truyền huyết thanh mặn, ngọt bù đủ nước và điện giải.

Chống truỵ tim mạch: Bằng ouabain 1/4 mg, 1-2 lần/ ngày hoặc cafein, coramin.

Giảm sốt chống đau: Paracetamol, analgin.

Chống co giật mê sảng: Bằng aminagin 0,025g, pipolphen 0,05g, spactein 0,05g mỗi thuốc 1 ống, pha lẫn tiêm bắp 2 lần / ngày.

Chăm sóc da niêm mạc xúc miệng bằng dung dịch Natribicarbonat 1-2%. Giữ không gãi làm vỡ mụn đậu, chấm dung dịch thuốc tím 2-5% vào nốt đậu bị vỡ. Tắm nước ấm , thay vải trải giường quần áo thường xuyên.

Dự phòng

Biện pháp tốt nhất là chủng đậu.


Bài xem nhiều nhất

Bài giảng uốn ván (Tetanus)

Những vết thương có tình trạng thiếu ôxy do: Miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức bị hoại tử nhiều, thiếu máu, có dị vật ở vết thương, có vi khuẩn gây mủ khác kèm theo... tạo thuận lợi cho nha bào uốn ván phát triển gây bệnh.

Bài giảng nhiễm HIV, AIDS

HIV là một Retrovirut họ Lentiviridae. Hiện nay đã phát hiện được HIV-1 (phân lập đầu tiên năm 1983) và HIV-2 (phân lập đầu tiên năm 1985). HIV có axit nhân là ARN. Hiện nay trên thế giới HIV-1 là phổ biến.

Bài giảng bệnh quai bị (parotitis epidemica)

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp

Bài giảng sốt xuất huyết Dengue (Febris hacmorrhagica Dengue)

Các virut Dengue có nhiều kháng nguyên, có kháng nguyên đặc hiệu của typ, có nhữngkháng nguyên chung của phân nhóm và nhóm. Cả 4 typ huyết thanh virut Dengue có họ hàng với nhau phản ứng chéo nhau.

Bài giảng lỵ trực khuẩn (shigellosis)

Các shigella đều có độc ruột( enterotoxin) là ShET-1 và ShET-2 chúng làm thay đổi sự vận chuyển  điện giải ở các tế bào niêm mạc đại tràng, gây tăng tiết dịch.

Bài giảng viêm gan virut cấp (Acute Viral Hepatitis)

Do có nhiều loại virut viêm gan khác nhau (HAV, HBV, HCV, HDV, HEV), các virut này thuộc các họ virut khác nhau, đường lây khác nhau, khả năng gây bệnh, tiến triển của bệnh v.v... khác nhau.

Bài giảng thương hàn (Typhoid Fever)

Salmonella có sức sống và sức đề kháng tốt. Trong canh trùng, trong đất có thể sống được vài tháng, trong nước thường: 2-3 tuần, trong nước đá: 2-3 tháng, trong phân: vài tuần.

Bài giảng bệnh do amip (amebiasis)

Thể hoạt động nhỏ (Entamoeba histolytica forma minuta) sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động 8-25 micromet chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu.

Đại cương về bệnh truyền nhiễm (Introduction to infectious diseases)

Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch). Do vậy số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn.

Bài giảng bệnh dại (Rabies)

Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.

Bài giảng thuỷ đậu (Varicella)

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.

Bài giảng nhiễm khuẩn huyết (septicemia, sepsis)

Nhiễm khuẩn huyết G (-) thường ổ thứ phát từ: Đường tiêu hoá, tiết niệu sinh dục, mật, gan, thủ thuật bệnh viện: Catheter, mở khí quản, thẩm phân màng bụng.

Bài giảng bệnh tả (Cholera)

Phẩy khuẩn tả được đào thải theo phân ngay từ giai đoạn nung bệnh, nhưng nhiều nhất ở giai đoạn tiêu chảy. Bệnh nhân mắc bệnh tả có thể đào thải 107-108 vi khuẩn/ gram phân.

Bài giảng lâm sàng và chẩn đoán sốt rét thường

Ký sinh trùng sốt rét là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 4 loài ký sinh trùng sốt rét ở người: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. malariae; riêng P. malariae thấy ở cả những khỉ lớn châu Phi.

Bài giảng bệnh do leptospira (Leptospirosis)

Tổn thư­ơng gan trong leptospirosis gây triệu chứng vàng da. Nguyên nhân do tổn thư­ơng mạch máu nuôi dư­ỡng tế bào gan dẫn đến hoại tử tế bào và do độc tố xoắn khuẩn gây huỷ hồng cầu.

Bài giảng bệnh ho gà (Pertussis)

Vi khuẩn tiết ra nội độc tố (Pertussis toxin) gồm hai loại: Chịu nhiệt và không chịu nhiệt, có yếu tố làm tăng lympho bào (LPF), yếu tố nhạy cảm với histamine (HSF), ngưng kết tố FHA.

Bài giảng nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn (Alimentary Toxinfection)

Nhiễm khuẩn nhiễm độc ăn uống do ăn phải thức ăn đã bị ô nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh. Điển hình là nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do Salmonella.

Bài giảng viêm màng não do lao (Tuberculous Meningitis)

Ngày nay, nhiều kỹ thuật y học hiện đại như các kỹ thuật ELISA, PCR, CT-scaner... đã được nghiên cứu làm cho chẩn đoán bệnh viêm màng não do lao được chính xác hơn.

Bài giảng viêm gan virut mạn tính (Chronic Viral Hepatitis)

Viêm gan mạn do virut: Các virut viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và viêm gan do HBV+ HDV là những virut dễ tiến triển đến viêm gan mạn (không loại trừ còn có virut khác nữa).

Bài giảng sốt do ấu trùng mò (Scrub Typhus Tsutsugamushi)

Sốt mò thường xảy ra vào mùa mưa và nóng. Do vậy ở miền Bắc Việt Nam thường từ tháng 5 đến tháng 10. Còn ở miền Nam Việt Nam sốt mò xảy ra quanh năm nhưng vẫn cao nhất vào mùa mưa.

Bài giảng viêm não nhật bản (encephalitis japonica)

Thời kỳ khởi phát của bệnh tương ứng với lúc vi rút vượt qua hàng rào mạch máu - não tổn thương vào tổ chức não và gây nên phù nề não.

Bài giảng viêm màng não do vi khuẩn (Bacterial Meningitis)

Do vết thương hoặc phẫu thuật vùng sọ não, cột sống... hoặc do thủ thuật chọc ống sống gây nhiễm khuẩn. Mầm bệnh thường gặp là: Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn mủ xanh.

Bài giảng bệnh cúm (Grippe)

Virut cúm thuộc họ Ortho myxo viride, có hình cầu, đoi khi hình sợi, kích thước khoảng 80- 100 mm . Dễ bị diệt ở nhiệt độ thông thường, chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp. Các virut có 3 loại kháng nguyên.

Bài giảng bệnh dịch hạch (Plague)

Yersinia pestis tạo ra cả nội độc tố và ngoại độc tố. Các độc tố dịch hạch có tác động làm tan hồng cầu, tan tơ huyết làm đông huyết tương, yếu tố giúp vi khuẩn xâm nhập và có yếu tố diệt bạch cầu.

Bài giảng bệnh đậu mùa (Variola)

Vi rút đề kháng tốt với dung dịch cồn Ether Phenol Glycerin và nước đá. Nhiệt độ trên 550C và các dung dịch Xanh Methylen, thuốc tím, tia cực tím bất hoạt vi rút đậu mùa nhanh chóng.

Xem theo danh mục