Bài giảng thuỷ đậu (Varicella)

Ngày: 3 - 11 - 2012

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.


Định nghĩa

Thuỷ đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây theo đường hô hấp. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh là sốt, phát ban và mụn nước trên da niêm mạc, ban mọc thành nhiều đợt cách nhau 3-4 ngày.

Lịch sử nghiên cứu

Bệnh thuỷ đậu đã được các tác giả mô tả từ thời cổ đại (C.S. Plimus) và được coi là một thể bệnh đậu mùa nhẹ. Vogel (1765) đặt tên bệnh là Varicella. Heberden (1767) lần đầu tiên mô tả thuỷ đậu là một bệnh có bệnh cảnh lâm sàng riêng biệt. Steiner (1875) đã chứng minh thuỷ đậu là một bệnh truyền nhiễm . Aragao (1911) và E.Paschen (1917) chứng minh mầm bệnh là vi rút.

Dịch tễ học

Mầm bệnh

Vi rút gây bệnh thuỷ đậu là một loại vi rút có kích thước lớn, có tên gọi là vi rút Varicella- Zoster (Varicella- Zoster vi rus), có axít nhân là AND. Kích thước khoảng 150- 200mm, ở ngoài cơ thể vi rút kém bền vững. Nuôi cấy vi rút trong phôi bào gà và ở môi trường mô.

Vi rút Varicella- Zoster gây ra hai thể bệnh là thuỷ đậu và Herpes Zoster (bệnh Zona) được Kindratitf mô tả năm 1925.

Nguồn bệnh

Là bệnh nhân thuỷ đậu, bệnh nhân có khả năng lây nhiễm từ cuối thời kỳ nung bệnh tới khi ban đóng vẩy.

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.

Đường lây

Bệnh thuỷ đậu lây theo đường hô hấp do vi rút trong nước bọt và dịch ở họng bệnh nhân tung ra môi trường xung quanh. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, gây nhiễm cho trẻ em khác chưa bị bệnh. Cửa vào chủ yếu là niêm mạc đường hô hấp, cũng có thể là đường tiêu hoá, kết mạc mắt nhưng hiếm gặp.

Cơ thể cảm thụ tính chất miễn dịch

Tất cả mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh thuỷ đậu. Lứa tuổi dễ mắc bệnh là trẻ em từ 6 tháng đến 7 tuổi. Người lớn ít bị mắc bệnh vì đã có miễn dịch, chỉ khoảng 10% người lớn trên 20 tuổi mắc bệnh thuỷ đậu.

Bệnh nhân sau khi mắc bệnh có miễn dịch bền vững suốt đời, tuy nhiên cũng có khoảng 1% tái nhiễm. Bệnh hay gặp vào mùa lạnh.

Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý

Cơ chế bệnh sinh

Từ cửa vào là niêm mạc đường hô hấp, vi rút vào máu và đi đến các cơ quan khác. Ban xuất hiện ở da và niêm mạc là do vi rút thuỷ đậu khu trú và phát triển ở đó. Một số tác giả cho rằng vi rút thuỷ đậu có thể tồn tại trong các tế bào thần kinh ở thể ngủ sau khi khỏi bệnh.

Tổn thương giảI phẫu bệnh lý

Tổn thương chủ yếu ở da và niêm mạc, phù nề, thoái hoá nước tế bào biểu mô tạo thành các nốt phỏng nước có một ngăn trong da. Các nốt phỏng chứa vi rút thuỷ đậu, dịch tế bào biểu mô bạch cầu thoái hoá và tế bào khổng lồ. Những trường hợp có biến chứng viêm não thường tử vong, hình ảnh giải phẫu bệnh lý là viêm não vi rút hậu phát.

Lâm sàng

Phân chia thể lâm sàng

Thể hạch.

Thể thông thường điển hình.

Thể bệnh thuỷ đậu bất thường.

Triệu chứng học theo từng thể bệnh

Thuỷ đậu thể thông thường điển hình

Thời kỳ nung bệnh: Từ 14-17 ngày (10-21 ngày thường không có triệu chứng lâm sàng).

Thời kỳ khởi phát: Khoảng 1 ngày có thể không sốt hoặc sốt nhẹ, đau mỏi cơ khớp, trẻ nhỏ thường không chịu chơi, quấy khóc. Có trường hợp sốt cao 39- 400, trằn trọc mê sảng co giật, kèm theo viêm họng, viêm xuất tiết đường hô hấp trên.

Thời kỳ toàn phát (thời kỳ mọc ban): Ban thuỷ đậu xuất hiện nhanh ngay từ những ngày đầu của bệnh. Ban mọc khi tình trạng toàn thân gần như bình thường hoặc sốt nhẹ ở trẻ em, kèm theo sốt cao và tình trạng nhiễm độc toàn thân nặng ở người lớn. Ban thuỷ đậu có đặc điểm:

Thoạt đầu là những ban dát màu đỏ, vài giờ sau thành nốt phổng nước trong, rất nông như đặt trên mặt da, sau từ 24 đến 48 giờ ngả màu vàng, nốt thuỷ đậu trở thành có hình cầu nổi trên mặt da 2mm, có đường kính khoảng 5mm, xung quanh nốt có nền da tấy đỏ rộng 1mm, một số nốt phỏng hơi lõm ở trung tâm.

Ban thuỷ đậu mọc rải rác toàn thân, có xu hướng dày hơn ở bụng, ngực, mặt trước da chân, tay thưa hơn ở mặt ở lòng bàn chân, tay hầu như không có. Nhưng ban thuỷ đậu ở chân tóc thì bao giờ cũng có.

Nốt phỏng thuỷ đậu chỉ có một ngăn nên khi dùng kim chọc vào thì xẹp ngay.

Ban mọc thành nhiều đợt (3-4 ngày một đợt) vì vậy trên một vùng da thấy có đủ các nốt ban ở các độ tuổi khác nhau.

Trong niêm mạc miệng cũng có những nốt phổng, như ở trong lưỡi vòm họng, khi các nốt phổng vỡ tạo thành các nốt loét nông, hình tròn hoặc bầu dục, làm bệnh nhân chảy nước dãi, nuốt đau ít thấy ban mọc ở màng tiếp hợp hoặc trong âm hộ.

Bệnh nhân thường ngứa nhiều khi ban mọc, các nốt phổng vỡ dễ bội nhiễm, hạch ngoại vi có thể xưng.

Sau từ 4-6 ngày, nốt thuỷ đậu tự khô, đóng vảy màu nâu sẫm , vảy bong ra sau một tuần, không để lại sẹo vĩnh viễn, trừ khi có loét và bội nhiễm.

Xét nghiệm: Số lượng bạch cầu máu ngoại vi có thể giảm, bạch cầu ưa Axitlúc đầu giảm, sau đó tăng trong thời kỳ lui bệnh. Lympho bào cũng tăng, tốc độ máu tăng.

Thể nhẹ

Bệnh nhân không sốt, ban mọc thưa thớt không tiến triển thành các nốt phỏng nước, hoặc ban chỉ mọc khu trú ở một vùng da chiếu tia hồng ngoại, quanh thắt lưng.

Thuỷ đậu thể bất thường

Nốt thuỷ đậu bội nhiễm gây mủ, vi khuẩn bội nhiễm thường là tụ cầu liên cầu.

Nốt thuỷ đậu có máu, ở những bệnh nhi bị bệnh máu, trẻ em suy dinh dưỡng, suy mòn nốt thuỷ đậu có thể bị hoại tử tạo thành vết loét sâu, có dịch màu xám.

Thuỷ đậu thể xuất huyết (Varicella Haemorrhagica): Các nốt phỏng chứa máu và chảy máu, thường kèm theo đái ra máu, xuất huyết tiêu hoá, chảy máu cam.

Thuỷ đậu thể hoại thư (Varicella Ganraenosa). Nốt phỏng có thể bị hoại tử gây loét sâu, đáy vết loét có dịch, bờ vết loét nham nhở.

Thể thuỷ đậu xuất huyết và hoại thư thường diễn biến nặng, kéo dài hay có biến chứng nhiễm khuẩn huyết, tỷ lệ tử vong cao.

Biến chứng

Viêm niêm mạc miệng, viêm tai giữa và tai ngoài, viêm thanh quản, hội chứng Croup giả …..

Viêm thận trong các trường hợp nặng, ban mọc muộn vào ngày thứ 3, thứ 4 của bệnh có thể làm đi tiểu ra máu.

Viêm khớp tràn dịch: Gặp ở các thể nặng, các khớp có viêm và tràn dịch, ít khi thành mủ.

Viêm phổi hay gặp ở người lớn bị thuỷ đậu

Bệnh kết hợp: Bệnh thuỷ đậu có thể kết hợp với một bệnh truyền nhiễm khác cùng xuất hiện như bạch hầu, ho gà, sởi các bệnh này thường nặng lấn át lâm sàng bệnh thuỷ đậu.

Viêm não: Nguyên nhân có thể do vi rút thuỷ đậu, hoặc dị ứng hay do một vi rút khác. Đây là một viêm não vi rút hậu phát thường gặp nhiều ở trẻ em nam mắc thuỷ đậu. Khởi phát từ ngày thứ 3 đến ngày thú 8 của bệnh. Có thể chậm hơn vào ngày thứ 21của bệnh. Tỷ lệ tử vong khoảng 5%.

Biến chứng khác: Viêm cơ tim viêm hạch lym pho, viêm dây thần kinh, một số trường hợp nhiễm nặng có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết

Chẩn đoán xác định

Lâm sàng

Bệnh khởi phát đột ngột.

Triệu chứng toàn thân nhẹ.

Ban mọc ngay từ ngày đầu của bệnh, chỉ có nốt phổng nước nếu không nhiễm khuẩn thì không có mụn mủ.

Ban mọc không theo thứ tự, mọc thành nhiều đợt cách nhau 3-4 ngày, ban ở chân tóc bao giờ cũng có.

Trên cùng một vùng da có nhiều tuổi ban khác nhau.

Khi ban lặn không để lại sẹo vĩnh viễn.

Xét nghiệm

Bạch cầu máu ngoại vi giảm, Lympho bào tăng. Phân lập vi rút, xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh, soi tìm vi rút thuỷ đậu bằng kính hiển vi điện tử, miễn dịch huỳnh quang… Tuy nhiên những xét nghiệm này ít được áp dụng trong lâm sàng.

Dịch tễ

Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ chưa bị bệnh, cùng một tập thể có nhiều trẻ mắc bệnh, bệnh thuỷ đậu thường xảy ra vào mùa đông, thời tiết lạnh khô.

Chẩn đoán phân biệt

Bệnh đậu mùa thể nhẹ và thể cụt không có mụn mủ, mụn mủ theo thứ tự, cùng lứa tuổi. Khi mụn đậu mọc thì nhiệt độ toàn thân giảm, xét nghiệm có bạch cầu máu ngoại vi tăng.

Ngừa đậu toàn thân (sau chủng Vacxin đậu mùa). Ban xuất hiện ở chỗ tiêm chủng, xuất hiện cùng một thời gian sau khi tiêm chủng 8-10 ngày, có nhiều tuổi dưới dạng nốt phổng, không có mụn mủ. Sau ba ngày bắt đầu khô để lại sẹo.

Một số bệnh ngoài da gây nốt phỏng như chốc lở, viêm da dị ứng, bệnh Zona tại chỗ và toàn thân( Herpes Zoster Generalisatus)

Điều trị

Nguyên tắc điều trị

Cách ly để phòng lây lan.

Không có thuốc đặc trị, chỉ điều trị triệu chứng.

Xử lý tốt các nốt phỏng, nốt loét đề phòng bội nhiễm.

Thời gian cách ly: Cho tới khi ban hết mọc, vảy ban bong hết.

Điều trị triệu chứng cụ thể

Khi có sốt cao: Uống thuốc hạ nhiệt Pracetamol, thuốc an thần chống co giật Gacdenal, seduxen, Canxibromua 3%...

Chống ngứa bằng các thuốc kháng Histamin như Dimedrol 1%...

Khi có bội nhiễm: Dùng kháng sinh thích hợp

Các thuốc Vitamin nhóm B,C…

Công tác săn sóc bệnh nhân thuỷ đậu rất quan trọng:

Bệnh nhân ở buồng thoáng, tránh gió lùa

Đề phòng và phát hiện biến chứng.

Vệ sinh răng miệng, bằng nước muối sinh lý dung dịch axit boric 1%...Vệ sinh tai mũi họng.

Vệ sinh da: Giữ cho da khô sạch không để trẻ gãi gây vỡ nốt phỏng nước. Chấm dung dịch xanh methylen hoặc thuốc tím 1/4000 vào các nốt loét, mặc quần áo mềm sạch.

Ăn lỏng,ấm, đủ dinh dưỡng.

Phòng bệnh

Bệnh nhân được cách ly, điều trị tại nhà. Chỉ đưa đi bệnh viện những trường hợp nặng có biến chứng.

Tẩy uế buồng bệnh hằng ngày.

Thời gian cách ly: Sau khi mọc ban đợt cuối cùng 5 ngày.

Trẻ em ở tuổi nhà trẻ, mẫu giáo chưa bị thuỷ đậu, nếu có tiếp xúc với bệnh nhân thuỷ đậu phải giữ tại nhà từ 11 đến 21 ngày kể từ khi tiếp xúc.

Bệnh thuỷ đậu không có vacxin phòng bệnh, có thể phòng bệnh cho những trẻ nhỏ sức đề kháng yếu chưa bị thuỷ đậu bằng tiêm bắp thịt 3ml Gamma Globulin.


Bài xem nhiều nhất

Bài giảng uốn ván (Tetanus)

Những vết thương có tình trạng thiếu ôxy do: Miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức bị hoại tử nhiều, thiếu máu, có dị vật ở vết thương, có vi khuẩn gây mủ khác kèm theo... tạo thuận lợi cho nha bào uốn ván phát triển gây bệnh.

Bài giảng nhiễm HIV, AIDS

HIV là một Retrovirut họ Lentiviridae. Hiện nay đã phát hiện được HIV-1 (phân lập đầu tiên năm 1983) và HIV-2 (phân lập đầu tiên năm 1985). HIV có axit nhân là ARN. Hiện nay trên thế giới HIV-1 là phổ biến.

Bài giảng bệnh quai bị (parotitis epidemica)

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp

Bài giảng sốt xuất huyết Dengue (Febris hacmorrhagica Dengue)

Các virut Dengue có nhiều kháng nguyên, có kháng nguyên đặc hiệu của typ, có nhữngkháng nguyên chung của phân nhóm và nhóm. Cả 4 typ huyết thanh virut Dengue có họ hàng với nhau phản ứng chéo nhau.

Bài giảng lỵ trực khuẩn (shigellosis)

Các shigella đều có độc ruột( enterotoxin) là ShET-1 và ShET-2 chúng làm thay đổi sự vận chuyển  điện giải ở các tế bào niêm mạc đại tràng, gây tăng tiết dịch.

Bài giảng viêm gan virut cấp (Acute Viral Hepatitis)

Do có nhiều loại virut viêm gan khác nhau (HAV, HBV, HCV, HDV, HEV), các virut này thuộc các họ virut khác nhau, đường lây khác nhau, khả năng gây bệnh, tiến triển của bệnh v.v... khác nhau.

Bài giảng thương hàn (Typhoid Fever)

Salmonella có sức sống và sức đề kháng tốt. Trong canh trùng, trong đất có thể sống được vài tháng, trong nước thường: 2-3 tuần, trong nước đá: 2-3 tháng, trong phân: vài tuần.

Bài giảng bệnh do amip (amebiasis)

Thể hoạt động nhỏ (Entamoeba histolytica forma minuta) sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động 8-25 micromet chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu.

Đại cương về bệnh truyền nhiễm (Introduction to infectious diseases)

Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch). Do vậy số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn.

Bài giảng bệnh dại (Rabies)

Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.

Bài giảng thuỷ đậu (Varicella)

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.

Bài giảng nhiễm khuẩn huyết (septicemia, sepsis)

Nhiễm khuẩn huyết G (-) thường ổ thứ phát từ: Đường tiêu hoá, tiết niệu sinh dục, mật, gan, thủ thuật bệnh viện: Catheter, mở khí quản, thẩm phân màng bụng.

Bài giảng bệnh tả (Cholera)

Phẩy khuẩn tả được đào thải theo phân ngay từ giai đoạn nung bệnh, nhưng nhiều nhất ở giai đoạn tiêu chảy. Bệnh nhân mắc bệnh tả có thể đào thải 107-108 vi khuẩn/ gram phân.

Bài giảng lâm sàng và chẩn đoán sốt rét thường

Ký sinh trùng sốt rét là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 4 loài ký sinh trùng sốt rét ở người: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. malariae; riêng P. malariae thấy ở cả những khỉ lớn châu Phi.

Bài giảng bệnh do leptospira (Leptospirosis)

Tổn thư­ơng gan trong leptospirosis gây triệu chứng vàng da. Nguyên nhân do tổn thư­ơng mạch máu nuôi dư­ỡng tế bào gan dẫn đến hoại tử tế bào và do độc tố xoắn khuẩn gây huỷ hồng cầu.

Bài giảng bệnh ho gà (Pertussis)

Vi khuẩn tiết ra nội độc tố (Pertussis toxin) gồm hai loại: Chịu nhiệt và không chịu nhiệt, có yếu tố làm tăng lympho bào (LPF), yếu tố nhạy cảm với histamine (HSF), ngưng kết tố FHA.

Bài giảng nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn (Alimentary Toxinfection)

Nhiễm khuẩn nhiễm độc ăn uống do ăn phải thức ăn đã bị ô nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh. Điển hình là nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do Salmonella.

Bài giảng viêm màng não do lao (Tuberculous Meningitis)

Ngày nay, nhiều kỹ thuật y học hiện đại như các kỹ thuật ELISA, PCR, CT-scaner... đã được nghiên cứu làm cho chẩn đoán bệnh viêm màng não do lao được chính xác hơn.

Bài giảng viêm gan virut mạn tính (Chronic Viral Hepatitis)

Viêm gan mạn do virut: Các virut viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và viêm gan do HBV+ HDV là những virut dễ tiến triển đến viêm gan mạn (không loại trừ còn có virut khác nữa).

Bài giảng sốt do ấu trùng mò (Scrub Typhus Tsutsugamushi)

Sốt mò thường xảy ra vào mùa mưa và nóng. Do vậy ở miền Bắc Việt Nam thường từ tháng 5 đến tháng 10. Còn ở miền Nam Việt Nam sốt mò xảy ra quanh năm nhưng vẫn cao nhất vào mùa mưa.

Bài giảng viêm não nhật bản (encephalitis japonica)

Thời kỳ khởi phát của bệnh tương ứng với lúc vi rút vượt qua hàng rào mạch máu - não tổn thương vào tổ chức não và gây nên phù nề não.

Bài giảng viêm màng não do vi khuẩn (Bacterial Meningitis)

Do vết thương hoặc phẫu thuật vùng sọ não, cột sống... hoặc do thủ thuật chọc ống sống gây nhiễm khuẩn. Mầm bệnh thường gặp là: Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn mủ xanh.

Bài giảng bệnh cúm (Grippe)

Virut cúm thuộc họ Ortho myxo viride, có hình cầu, đoi khi hình sợi, kích thước khoảng 80- 100 mm . Dễ bị diệt ở nhiệt độ thông thường, chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp. Các virut có 3 loại kháng nguyên.

Bài giảng bệnh dịch hạch (Plague)

Yersinia pestis tạo ra cả nội độc tố và ngoại độc tố. Các độc tố dịch hạch có tác động làm tan hồng cầu, tan tơ huyết làm đông huyết tương, yếu tố giúp vi khuẩn xâm nhập và có yếu tố diệt bạch cầu.

Bài giảng bệnh đậu mùa (Variola)

Vi rút đề kháng tốt với dung dịch cồn Ether Phenol Glycerin và nước đá. Nhiệt độ trên 550C và các dung dịch Xanh Methylen, thuốc tím, tia cực tím bất hoạt vi rút đậu mùa nhanh chóng.

Xem theo danh mục