Bài giảng bệnh quai bị (parotitis epidemica)

Ngày: 3 - 11 - 2012

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp


Định nghĩa

Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virut quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virut quai bị gây nên. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hoá mủ. Các tuyến nước bọt khác, tinh hoàn, tuỵ và hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị tổn thương.

Lịch sử bệnh

Từ thời Hypocrates người ta đã biết về bệnh quai bị và đường lây. Năm  1700 Haminton miêu tả về trường hợp viêm tinh hoàn do quai bị. Năm 1934 Johnson và Goodpasture đã tìm thấy vi rut quai bị trong tuyến nước bọt bệnh nhân quai bị. Năm 1950 Ender và cộng sự chế thành công vac xin chết. Năm 1966 Buynak và Halleman đã chế thành công vac xin sống giảm độc lực.

Dịch tễ học

Mầm bệnh

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp

Nguồn bệnh

Là những người đang mắc quai bị cấp tính ở tất cả các thể.

Đường lây

Lây trực tiếp bằng đường hô hấp qua tiếp xúc giữa người bệnh và người lành.

Thời gian lây: Từ 7 ngày trước đến 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên của bệnh.

Đặc điểm dịch tễ

Bệnh gặp khắp nơi trên thế giới và có thể xảy ra quanh năm nhưng thường  thành dịch vào mùa Đông - Xuân.

Bệnh thường xảy ra ở thanh thiếu niên trong các tập thể: Mẫu giáo, trường học, đơn vị tân binh.

Cảm thụ và miễn dịch

Cảm thụ: Tất cả những người chưa mắc quai bị thường ở tuổi thanh thiếu niên. Trẻ dưới 2 tuổi và người già rất hiếm bị bệnh.

Miễn dịch: Sau khi mắc bệnh có miễn dịch vững bền tồn tại rất nhiều năm. Có tái phát, nhưng rất hiếm. Miễn dịch mẹ tryền cho con tồn tại khoảng 1 năm.

Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý

Cơ chế bệnh sinh

Từ niêm mạc miệng, mũi, họng, kết mạc, vi rút đột nhập vào máu gây nhiễm vi rút huyết và gây nên các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc ở thời kỳ đầu. Sau đó từ máu vi rút đột nhập vào các tuyến nước bọt (hay gặp nhất là tuyến mang tai), tuyến sinh dục, tuỵ, thần kinh v.v... và phát triển, gây nên các triệu chứng viêm cục bộ ở các cơ quan này. Sau đó vi rút được đào thải qua nước bọt. Đôi khi có thể từ tuyến nước bọt đột nhập vào máu gây tổn thương ở tuyến khác.

Giải phẫu bệnh

Các tuyến nước bọt: Chủ yếu viêm mô kẽ còn mô hạch ít bị tổn thương.

Tuỵ: Viêm hoại tử cả hệ thống nội ngoại tiết.

Tinh hoàn: Thương tổn cả mô kẽ và biểu mô tuyến dẫn đến hoại tử các tế bào biểu mô. Sau đó các tuyến bị teo lại và tắc. Nếu bị tổn thương nặng có thể gây thiểu năng sinh dục, không có tinh trùng.

Thần kinh trung ương: Màng não bị viêm thâm nhiễm xuất tiết. Não bị viêm gây phù nề, xung huyết.

Lâm sàng

Phân loại

Phân loại theo triệu chứng         

Thể điển hình.

Thể ẩn (chiếm 20% - 90% trong vụ dịch).

Phân loại theo mức độ

Có các mức độ: nhẹ, vừa, nặng.

Phân loại theo vị trí tổn thương

Hay được dùng trong lâm sàng.

Thể viêm tuyến nước bọt: Tuyến mang tai, dưới hàm, dưới lưỡi.

Thể viêm tinh hoàn.

Thể viêm tuỵ.

Thể thần kinh: Viêm màng não, viêm não.

Thể kết hợp: Viêm tuyến mang tai, viêm tinh hoàn, viêm tuyến mang tai + viêm màng não.

Triệu chứng học theo từng thể lâm sàng

Lâm sàng thể điển hình, mức độ vừa

Là thể viêm tuyến mang tai (thể hay gặp nhất, chiếm 70% các thể có khu trú rõ).

Nung bệnh: Trung bình từ 18 - 21 ngày.

Khởi phát: Sốt 38-39°C.  Đau đầu, đau mỏi toàn thân, ăn ngủ kém.

Toàn phát:

Sau sốt 24-28 giờ xuất hiện viêm tuyến mang tai. Lúc đầu sưng một bên, sau 1-2 ngày sưng tiếp bên kia (thường sưng cả hai bên, ít gặp sưng chỉ 1 bên). Hai bên sưng thường không đối xứng (bên sưng to, bên sưng nhỏ), tuyến mang tai sưng to đôi khi làm mất rãnh trước và sau tai, có khi biến dạng mặt, mặt phình ra, cổ bạnh, cằm xệ.

Da vùng tuyến mang tai bị sưng căng, bóng, không đỏ, ấn không lõm, sờ nóng, đau.

Nước bọt ít, quánh.

Viêm đỏ lỗ ống Stenon (dấu hiệu Mourson). Khi tuyến mang tai sưng không rõ ràng hoặc lúc mới khởi bệnh cần tìm 3 điểm đau của Rillet và Barthez đó là: điểm khớp thái dương - hàm, điểm mỏm xương chũm, điểm sau góc xương hàm dưới.

Các triệu chứng khác:       

Đau hàm khi há miệng, khi nhai, nuốt. Đau lan ra tai.

Họng viêm đỏ.

Sưng hạch góc hàm.

Vẫn sốt, đau đầu, có thể có nhịp tim chậm.

Có thể kèm viêm tuyến dưới lưỡi, dưới hàm.

Xét nghiệm máu: Bạch cầu giảm, bạch cầu đa nhân trung tính giảm, lympho tăng tương đối, Amylaza máu và nước tiểu đều tăng.

Lui bệnh:

Bệnh tự khỏi trong vòng 10 ngày. Thường hết sốt sau 3-4 ngày, tuyến hết sưng trong vòng 8-10 ngày, hạch sưng kéo dài hơn tuyến một chút. Tuyến nước bọt không bao giờ hoá mủ (trừ khi bội nhiễm vi khuẩn) và cũng không bao giờ bị teo.

Những thể lâm sàng khác

Viêm tuyến nước bọt dưới lưỡi, dưới hàm:

Thường đi kèm với viêm tuyến mang tai, hiếm khi riêng biệt.

Khi viêm tuyến dưới hàm làm cằm xệ xuống, khó nuốt và nuốt đau. Viêm tuyến dưới lưỡi làm lưỡi lè ra.

Xét nghiệm: Amylaza máu và nước tiểu đều tăng.

Những thể khu trú ngoài tuyến nước bọt:

Có thể xảy ra trước, cùng hoặc sau viêm tuyến nước bọt. Đôi khi không đi kèm viêm tuyến nước bọt.

Viêm tinh hoàn (orchitis):

Hay gặp ở nam giới đang tuổi dậy thì hoặc đã trưởng thành.

Tỷ lệ mắc tuỳ vụ dịch, tuỳ theo tác giả (từ 10% - 30% số mắc bệnh quai bị), nhưng là nơi khu trú hay gặp đứng thứ hai sau viêm tuyến nước bọt mang tai.

Thường bị một bên, ít gặp cả hai bên. Khi bị cả hai bên thì cũng sưng cách nhau 2-3 ngày.

Thường xuất hiện sau viêm tuyến nước bọt và khi các triệu chứng viêm tuyến nước bọt đã dịu đi. Thường vào ngày thứ 5 đến thứ 10 của bệnh thấy sốt xuất hiện trở lại hoặc sốt tăng lên. Có thể buồn nôn, nôn. Tinh hoàn đau, nhất là khi đi lại và to gấp 2-3 lần bình thường, sờ thấy chắc, da bìu có thể nề, căng đỏ. Trong những trường hợp nặng có thể kèm thêm viêm thừng tinh, viêm mào tinh hoàn và tràn dịch màng tinh hoàn.

Tiến triển: Thường hết sốt sau 3-5 ngày. Tinh hoàn giảm sưng từ từ, có thể 3-4 tuần sau tinh hoàn mới hết sưng đau (với thể nặng) và không bao giờ có mủ.

Tinh hoàn có bị teo hay không phải đợi khoảng hai tháng sau mới biết chắc (tỷ lệ teo tinh hoàn khoảng 5/1000). Chứng vô tinh trùng rất hiếm. Chức năng nội tiết thường không bị ảnh hưởng. Theo kinh điển nếu teo tinh hoàn có thể gây các tình trạng như: Không có tinh trùng, vô sinh, chậm lớn, mất nam tính và liệt dương. Ngày nay qua theo dõi nhiều năm, đa số các tác giả thấy rằng:

Nếu teo 1 tinh hoàn sẽ không có ảnh hưởng gì, bên lành sẽ hoạt động bù trừ.

Khi bị teo cả 2 bên hoặc ở người chỉ có 1 tinh hoàn thì tỷ lệ bị ảnh hưởng hoạt động sinh dục và vô sinh cũng thấp.

Viêm buồng trứng (Oophoritis):

Ngược lại với viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng do quai bị rất hiếm gặp.

Viêm tuỵ (Pancreatitis):      

Ít gặp, tỷ lệ tuỳ theo tác giả.

Những khu trú ở hệ thần kinh:

Viêm màng não do virut quai bị: Gặp khoảng 16% các trường hợp quai bị. Thường xuất hiện sau khi viêm tuyến nước bọt vài ngày (đôi khi xuất hiện trước).

Viêm não: Có thể xảy ra cùng hoặc sau viêm tuyến mang tai 2-3 tuần. Đôi khi đơn độc. Thường kèm viêm màng não.Có tiên lượng tốt hơn  viêm não do vi rút Nhật bản. Hãn hữu có tử vong.

Các biểu hiện thần kinh khác:

 Viêm tuỷ sống, viêm đa rễ và dây thần kinh, viêm các dây thần kinh sọ (II, VII, VIII).

Những khu trú khác của quai bị (rất hiếm gặp):

 Viêm cơ tim, viêm phổi không điển hình, tràn dịch màng phổi, viêm thận.

Tiên lượng - Biến chứng và di chứng

Tiên lượng

Nói chung là lành tính. Hãn hữu có thể có tử vong do viêm não, viêm cơ tim, viêm tuỵ.

Biến chứng và di chứng

Phụ nữ có mang bị quai bị có thể bị sảy thai, đẻ non.

Nam giới: Viêm tinh hoàn nặng cả hai bên có thể để lại di chứng teo tinh hoàn, vô sinh.

Đái tháo đường do viêm tuỵ, điếc do tổn thương dây thần kinh số VIII.

Chẩn đoán xác định

Dựa dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm.

Dịch tễ

Đang có dịch quai bị nơi bệnh nhân sống.

Mùa Đông - Xuân.

Lâm sàng

Có viêm tuyến mang tai cấp không có xu hướng hoá mủ, thường bị hai bên, xuất hiện không cùng một lúc.

Xét nghiệm

Số lượng bạch cầu trong máu giảm, bạch cầu lympho tăng cao.

Amylaza máu và nước tiểu tăng cao.

Trong viêm tuỵ có thể kèm Lipase máu cao.

Phân lập virut quai bị ở nước bọt và dịch não tuỷ.

Huyết thanh chẩn đoán: Làm phản ứng kết hợp bổ thể hoặc phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, phản ứng ELISA có độ nhậy cao nay được sử dụng rộng rãi.

Chẩn đoán phân biệt

Khi viêm tuyến mang tai một bên cần phân biệt với:

Viêm mủ tuyến mang tai

Do vi khuẩn thương hàn, tụ cầu, liên cầu... Viêm tuyến mang tai một bên có sưng, nóng, đỏ, đau rõ. Có xu hướng hoá mủ nên ấn lõm. Vuốt dọc ống Stenon có mủ chảy ra. Bạch cầu tăng cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao. 

Sỏi tuyến nước bọt mang tai

Thường bị đi bị lại nhiều lần, sưng tăng lên theo các bữa ăn. Chụp tuyến nước bọt thấy sỏi.

Viêm hạch góc hàm dưới

Do viêm nhiễm ở khu vực xung quanh (răng, hàm, họng, hầu, hạch bạch nhân): Hạch có ranh giới rõ, di động, đau. Bạch cầu ở máu ngoại vi tăng cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao. Có ổ viêm ở khu vực lân cận.

Khi sưng cả hai bên cần phân biệt với:

Phì đại tuyến mang tai 2 bên bất thường

Không có dấu hiệu bệnh lý như: Sốt, đau tuyến mang tai.

Không thấy sưng lên hoặc giảm đi qua theo dõi một số ngày. Bệnh đã có từ lâu.

Điều trị

Không có thuốc đặc trị, chủ yếu điều trị triệu chứng.

Thể viêm tuyến mang tai

Súc miệng: Nước muối 0,9%, dung dịch Axit Boric 5%.

Hạ sốt nếu sốt quá cao, giảm đau (Paracetamol), An thần nhẹ (seduxen,rotunda), dùng các vitaminB,C uống nước chanh, cam, ăn lỏng.

Nằm nghỉ tại giường, hạn chế đi lại, trong thời gian còn sốt, còn sưng tuyến (thường là 7-8 ngày đầu). Cách ly tối thiểu 10 ngày.

Thể viêm tinh hoàn

Nằm nghỉ tại giường khi còn sưng đau. Mặc si-lip để treo tinh hoàn.

Giảm đau: Chườm đá, uống paracetamol 0,5´1 viên/lần, uống 2 đến3 lần /ngày (uống lúc no, cách 6 giờ uống 1 lần) dùng 3-4 ngày.

Nếu đau tinh hoàn nặng dùng paracetamol không đỡ có thể dùng thêm codein với liều 30 mg-60mg/ngày cho người lớn (chỉ dùng 2-3 ngày) hoặc efferalgan-codein  1viên/lần x 2-3 lần/ngày

Giảm viêm: Cortanxyl 20mg-30mg/ngày chia 2 lần uống lúc no, dùng 3-4 ngày.

Sau khi tinh hoàn đỡ sưng đau có thể dùng vitamin E 400mg 1 viên/ngày từ 1-2 tháng để tăng sinh tinh trùng.

Điều trị các thể khác

Viêm tuỵ, viêm màng não, viêm não.

Dự phòng

Cách ly 10-21 ngày nếu thấy cần (thường là 10 ngày).

Đeo mạng khi tiếp xúc với bệnh nhân.

Phụ nữ có thai bị bệnh nếu có điều kiện tiêm Globulin miễn dịch đặc hiệu, liều 0,3 mg/kg, dùng 1 liều tiêm bắp duy nhất.

Vacxin sống giảm hoạt (thường kết hợp với các vacxin khác như sởi...).

Liều 0,5 ml/tiêm dưới da một lần duy nhất phòng bệnh cho thanh, thiếu niên nhi đồng chưa có miễn dịch (đặc biệt cho người chỉ có một tinh hoàn, nghe kém). Vacxin cho miễn dịch tốt, không có tai biến. Bảo vệ được 3 năm đến 5 năm.


Bài xem nhiều nhất

Bài giảng uốn ván (Tetanus)

Những vết thương có tình trạng thiếu ôxy do: Miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức bị hoại tử nhiều, thiếu máu, có dị vật ở vết thương, có vi khuẩn gây mủ khác kèm theo... tạo thuận lợi cho nha bào uốn ván phát triển gây bệnh.

Bài giảng nhiễm HIV, AIDS

HIV là một Retrovirut họ Lentiviridae. Hiện nay đã phát hiện được HIV-1 (phân lập đầu tiên năm 1983) và HIV-2 (phân lập đầu tiên năm 1985). HIV có axit nhân là ARN. Hiện nay trên thế giới HIV-1 là phổ biến.

Bài giảng bệnh quai bị (parotitis epidemica)

Là virut nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirut. Có hướng tính gây bệnhvới các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng. Tổn tại lâu ở nhiệt độ thấp

Bài giảng sốt xuất huyết Dengue (Febris hacmorrhagica Dengue)

Các virut Dengue có nhiều kháng nguyên, có kháng nguyên đặc hiệu của typ, có nhữngkháng nguyên chung của phân nhóm và nhóm. Cả 4 typ huyết thanh virut Dengue có họ hàng với nhau phản ứng chéo nhau.

Bài giảng lỵ trực khuẩn (shigellosis)

Các shigella đều có độc ruột( enterotoxin) là ShET-1 và ShET-2 chúng làm thay đổi sự vận chuyển  điện giải ở các tế bào niêm mạc đại tràng, gây tăng tiết dịch.

Bài giảng viêm gan virut cấp (Acute Viral Hepatitis)

Do có nhiều loại virut viêm gan khác nhau (HAV, HBV, HCV, HDV, HEV), các virut này thuộc các họ virut khác nhau, đường lây khác nhau, khả năng gây bệnh, tiến triển của bệnh v.v... khác nhau.

Bài giảng thương hàn (Typhoid Fever)

Salmonella có sức sống và sức đề kháng tốt. Trong canh trùng, trong đất có thể sống được vài tháng, trong nước thường: 2-3 tuần, trong nước đá: 2-3 tháng, trong phân: vài tuần.

Bài giảng bệnh do amip (amebiasis)

Thể hoạt động nhỏ (Entamoeba histolytica forma minuta) sống trong lòng đại tràng có kích thước dao động 8-25 micromet chuyển động chậm hơn thể hoạt động lớn, trong bào tương không có hồng cầu.

Đại cương về bệnh truyền nhiễm (Introduction to infectious diseases)

Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch). Do vậy số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn.

Bài giảng bệnh dại (Rabies)

Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.

Bài giảng thuỷ đậu (Varicella)

Trẻ nhỏ có thể mắc bệnh thuỷ đậu sau khi tiếp xúc với người lớn bị bệnh Herpes Zoster, nhưng người lớn ít khi mắc bệnh Herpes Zoster sau khi tiếp xúc với trẻ em thuỷ đậu.

Bài giảng nhiễm khuẩn huyết (septicemia, sepsis)

Nhiễm khuẩn huyết G (-) thường ổ thứ phát từ: Đường tiêu hoá, tiết niệu sinh dục, mật, gan, thủ thuật bệnh viện: Catheter, mở khí quản, thẩm phân màng bụng.

Bài giảng bệnh tả (Cholera)

Phẩy khuẩn tả được đào thải theo phân ngay từ giai đoạn nung bệnh, nhưng nhiều nhất ở giai đoạn tiêu chảy. Bệnh nhân mắc bệnh tả có thể đào thải 107-108 vi khuẩn/ gram phân.

Bài giảng lâm sàng và chẩn đoán sốt rét thường

Ký sinh trùng sốt rét là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 4 loài ký sinh trùng sốt rét ở người: P. falciparum, P. vivax, P. ovale, P. malariae; riêng P. malariae thấy ở cả những khỉ lớn châu Phi.

Bài giảng bệnh do leptospira (Leptospirosis)

Tổn thư­ơng gan trong leptospirosis gây triệu chứng vàng da. Nguyên nhân do tổn thư­ơng mạch máu nuôi dư­ỡng tế bào gan dẫn đến hoại tử tế bào và do độc tố xoắn khuẩn gây huỷ hồng cầu.

Bài giảng bệnh ho gà (Pertussis)

Vi khuẩn tiết ra nội độc tố (Pertussis toxin) gồm hai loại: Chịu nhiệt và không chịu nhiệt, có yếu tố làm tăng lympho bào (LPF), yếu tố nhạy cảm với histamine (HSF), ngưng kết tố FHA.

Bài giảng nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn (Alimentary Toxinfection)

Nhiễm khuẩn nhiễm độc ăn uống do ăn phải thức ăn đã bị ô nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh. Điển hình là nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn do Salmonella.

Bài giảng viêm màng não do lao (Tuberculous Meningitis)

Ngày nay, nhiều kỹ thuật y học hiện đại như các kỹ thuật ELISA, PCR, CT-scaner... đã được nghiên cứu làm cho chẩn đoán bệnh viêm màng não do lao được chính xác hơn.

Bài giảng viêm gan virut mạn tính (Chronic Viral Hepatitis)

Viêm gan mạn do virut: Các virut viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và viêm gan do HBV+ HDV là những virut dễ tiến triển đến viêm gan mạn (không loại trừ còn có virut khác nữa).

Bài giảng sốt do ấu trùng mò (Scrub Typhus Tsutsugamushi)

Sốt mò thường xảy ra vào mùa mưa và nóng. Do vậy ở miền Bắc Việt Nam thường từ tháng 5 đến tháng 10. Còn ở miền Nam Việt Nam sốt mò xảy ra quanh năm nhưng vẫn cao nhất vào mùa mưa.

Bài giảng viêm não nhật bản (encephalitis japonica)

Thời kỳ khởi phát của bệnh tương ứng với lúc vi rút vượt qua hàng rào mạch máu - não tổn thương vào tổ chức não và gây nên phù nề não.

Bài giảng viêm màng não do vi khuẩn (Bacterial Meningitis)

Do vết thương hoặc phẫu thuật vùng sọ não, cột sống... hoặc do thủ thuật chọc ống sống gây nhiễm khuẩn. Mầm bệnh thường gặp là: Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn mủ xanh.

Bài giảng bệnh cúm (Grippe)

Virut cúm thuộc họ Ortho myxo viride, có hình cầu, đoi khi hình sợi, kích thước khoảng 80- 100 mm . Dễ bị diệt ở nhiệt độ thông thường, chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp. Các virut có 3 loại kháng nguyên.

Bài giảng bệnh dịch hạch (Plague)

Yersinia pestis tạo ra cả nội độc tố và ngoại độc tố. Các độc tố dịch hạch có tác động làm tan hồng cầu, tan tơ huyết làm đông huyết tương, yếu tố giúp vi khuẩn xâm nhập và có yếu tố diệt bạch cầu.

Bài giảng bệnh đậu mùa (Variola)

Vi rút đề kháng tốt với dung dịch cồn Ether Phenol Glycerin và nước đá. Nhiệt độ trên 550C và các dung dịch Xanh Methylen, thuốc tím, tia cực tím bất hoạt vi rút đậu mùa nhanh chóng.

Xem theo danh mục