Bài giảng viêm sinh dục


Ngày: 30 - 11 - 2014

Các ký sinh trùng như Trichomonas vaginalis, nấm Candida. Các mầm bệnh trên làm thay đối môi trường âm đạo, thay đổi pH bình thường của âm đạo (3,8 - 4,4). Quần thể vi khuẩn không gây bệnh như Lactobacillus (Dodcrlcin) bị giảm hoặc bị tiêu diệt, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển

Nhận định chung

Viêm sinh dục nữ là những bệnh lý nhiễm khuẩn đường sinh dục phụ nữ. Bệnh khá phổ hiến, 80% những người bị bệnh phụ khoa là viêm sinh dục. Viêm sinh dục có lầm quan trong trong bệnh lý phụ khoa vì nó là nguyên nhân gây nhiều rối loạn trong đời sống và hoạt động sinh dục của người phụ nữ. Hiện nay, trong việc kế hoạch hoá gia đinh thì viêm sinh dục ảnh hưởng đến khả năng sử dụng dụng cụ tử cung tránh thai và đó cũng là yếu tố thuận lợi làm tãng bệnh lây truyền qua đường tinh dục trong đó có nhiễm HIV.

Đặc điểm

Viêm sinh dục có mấy đặc điếm sau:

Phổ biến hay gặp trong độ tuổi hoạt động sinh dục.

Các bộ phận của đường sinh dục dưới và trên đều có thể bị viêm nhiễm.

Hình thái cấp tính và mạn tính đều có thế gập và hình thái mạn tính điều trị kéo dài kém hiệu qủa.

Phát hiện bệnh sớm, điều trị sẽ khỏi hẳn và tránh được những biến chứng xấu như viêm tắc ống dẫn trứng, đau trong viêm phần phụ mạn tính.

Nguyên nhân

Lây qua đường tình dục (giao hợp với người bị bệnh lây lan qua đường tình dục).

Thủ thuật như đình chỉ thai nghén, đặt dụng cụ tứ cung, bơm hơi vòi trứng...

Nhiẻm khuẩn sau sẩy, sau dẻ.

Kém vệ sinh khi giao hơp, sau khi hành kinh.

Mầm bệnh

Các vi khuẩn Gr (-), Gr (+) đều có thổ có mặt trong viêm sinh dục như tụ cầu vàng, E.coli, Klebsiella pn., Pseudomonas, Enterobacter, liên cầu, Mycoplasma genitalis, Gardncrclla vaginalis, Chlamydia, Neisseria gonorrhae và cả vi khuẩn kị khí.

Các ký sinh trùng như Trichomonas vaginalis, nấm Candida. Các mầm bệnh trên làm thay đối môi trường âm đạo, thay đổi pH bình thường của âm đạo (3,8 - 4,4). Quần thể vi khuẩn không gây bệnh như Lactobacillus (Dodcrlcin) bị giảm hoặc bị tiêu diệt, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển.

Bình thường ở cổ tử cung, âm đạo có một chất dịch tráng như sữa, trong hơi đặc, lượng ít không chảy ra ngoài âm hộ, không gây ánh hướng đến sinh hoạt cứa người phụ nữ.

Khi chất dịch tiết ra nhiều, cháy ra ngoài âm hộ làm cho người phụ nữ khó chịu phải để ý tới thì là bất thường, đó là khí hư.

Có ha loại khí hư:

Khí hư trong, dính như lòng trắng trứng, có khi loãng như nước. Xét nghiệm khí hư: không thấy vi khuẩn, bạch cầu, chỉ có tế bào biểu mô. Khí hư này từ niêm mạc tử cung, do u xư tử cung, polip cổ tứ cung, hoặc ở người cường estrogen. Điều trị nguyên nhân như cắt bỏ u xơ, xoắn pôlip, hoặc tiêm atropin sẽ hết khí hư.

Khí hư trắng như váng sữa, xét nghiệm không có bạch cầu và vi khuẩn. Nguyên nhân do rối loạn thần kinh thực vật ở bệnh nhân hay lo lắng, hoặc tử cung bị xung huyết. Điều trị phải giải thích cho bệnh nhân an tâm, tinh thần phấn khới hoặc thuốc giảm tiết dịch như atropin.

Khí hư đục: triệu chứng phổ biến của viêm sinh dục. Khí hư đục, loãng hoặc đặc do lẫn mú. Nhiỗm khuẩn càng nặng thì khí hư càng nhiều, màu sác vàng xanh, mùi hội, tanh.

Các loại viêm sinh dục

Ít khi có viêm âm hộ đơn thuần, thường hay phối hợp với viêm âm đạo.

Viêm âm đạo

Viêm âm đạo do Trichotnonas vaginalis (ký sinh trùng roi) viêm âm đạo do trichomonas đứng hàng thứ hai sau nguyên nhân nấm.

Đường lây truyền từ niệu đạo của nam giới mang ký sinh trùng là đường lây truyền chủ yếu. Ngoài ra, còn có thể do nguồn nước tắm giặt mà người bệnh đã dùng.

Triệu chứng: Ngứa, rát ờ âm đạo, âm hộ, đôi khi ngứa ở hậu môn. Trường hợp bệnh nhân bị lâu ngày, hoặc tái phát thì có thể không có triệu chứng này. Khí hư loãng, đục, vàng nhạt, thường có bọt.

Thăm khám bằng mỏ vịt, bệnh nhân rất đau.

Niêm mạc âm đạo viêm đỏ, nổi cục, do niêm mạc âm đạo phản ứng với viêm nên hình thành các đảo tân lymphô bào. Hình ảnh viêm lan đến cả cổ tử cung. Bôi dung dịch lugol vào âm đạo, cổ tử cung sẽ thấy những chấm trắng, hoặc những mảnh trắng rải rác trên nền nâu xẫm.

Xét nghiệm khí hư: soi tươi thấy ký sinh trùng, thể đơn bào, di dộng, ký sinh trùng ít gặp, hoặc số lượng ít trong giai đoạn rụng trứng hay gặp trước và sau ngày hành kinh. Nhuộm tiêu bản với Fuschin, hình ký sinh trùng với bờ không rõ nét, nhận định khó hơn.

Điều trị: Bệnh dai dẳng, hay tái phát, dù điều trị lâm sàng giảm, xét nghiệm ký sinh trùng âm tính vẫn nên điều trị tiếp.

Thường dùng hai loại: arsenic và họ nitro-5 imidazol. Biệt dược Gynoplix, viên nén có 0,25g. Đặt âm đạo vào buổi tối khi đi nằm. Điều trị trong 10 - 20 ngày.

Thuốc thuộc họ Nitro-5 imidazol có Flagyl, Klion (metronidazol) 0,25 g uống 0,500 - 0,750 g/ngày trong 10 ngày, kèm đặt viên Flagyl, Klion âm đạo. Nghỉ thuốc 10 ngày, điều trị tiếp đợt hai.

Có thể điều trị, uống Fasigyne 500 mg, hay Naxogyn 1000mg (thuốc thuộc họ Nitro - 5 imidazol), liều duy nhất 2000mg, 30 ngày sau uống nhắc lại.

Phải điều trị đổng thời cho cả nam giới, cho uống metronidazol.

Viêm âm đạo do nấm

Nấm gây bệnh ở niêm mạc âm đạo chú yếu là Candida Albicans, tropicalis, krusei (còn gọi là monilia). Bệnh hay gặp ở người có thai, đái tháo đường.

Triệu chứng: rất ngứa (âm hộ, âm đạo). Khí hư ít, như bột, hoặc sánh, có khi trông như vẩy nhỏ.

Âm hộ, âm đạo đỏ xẫm, khí hư trắng, như vẩy nho.

Bôi dung dịch lugol, âm đạo bắt mầu nâu xẫm, nham nhở những mảng nhỏ không hoặc ít bắt mầu với lugol.

Lấy khí hư làm tiêu bán, nhuộm Fuschin sẽ thấy sơi nấm, bào tử nấm như hình hạt thóc. Hoặc trên tiêu bản có khí hư, giỏ dung dịch KOH 5% rồi soi tươi sẽ thấy các tế bào tan đi, và hình các sợi nấm. Để định “típ” nấm Candida, cần phải cấy bệnh phẩm trong môi trường riêng.

Điều trị: viên nén âm đạo Nystatin 100.000 đơn vị, đặt vào âm đạo vào buổi tối trong 20 ngày hoặc Gynopevaryl 150 mg, (Econazole) hay Gynodaktarin 400 mg, (miconazole) đặt vào âm đạo. Các viên đạn trên trong ba ngày liền. Cùng với thuốc phải kết hợp với các biện pháp vệ sinh ngoài bộ phận sinh dục, vệ sinh quần lót (bằng vải).

Viêm âm đạo do vi khuẩn thường

Bệnh hay gặp ở những người đã mãn kinh, đã bị cắt 2 buồng trứng, ở em gái trước tuổi dậy thì.

Triệu chứng: khí hư vàng như mủ, có thể lẫn ít máu. Âm đạo xung huyết, đỏ.

Điều trị: đặt thuốc kháng sinh tại âm đạo, phối hợp với estrogen đặt âm đạo như Colposeptine, thuốc vừa có tác dụng sát khuẩn và tác dụng estrogen tại niêm mạc âm đạo. Điều trị trong 20 ngày liền.

Viêm âm đạo do vi khuẩn lậu

Thường kèm theo viêm âm hộ, viêm eo tử cung.

Triệu chứng: ra nhiều khí hư, đặc trắng hay xanh đục.

Đái buốt: thăm âm đạo: đau, thành âm đạo đỏ, lổn nhổn hạt xùi, Bệnh dễ chuyển sang hình thái mạn tính, viêm niệu đạo, viêm tuyến Bartholin.

Xét nghiệm khí hư, nhuộm Gram thấy song cầu hình hạt cà phê.

Phải điều trị cả nam giới.

Viêm âm đạo do (Gardnerella vaginalis)

Là loại Gr(-), hình que.

Triệu chứng: khí hư, nhiều, hội, đục, tăng lên quanh thời kỳ phóng noãn, trước kinh. Khí hư có mùi hội. Ngứa.

Niêm mạc âm đạo bình thường, khí hư đục dính vào âm đạo.

Lấy khí hư soi tươi sè thấy tập hơp tỏ bào cố nhiều trực khuẩn hình gậy bám.

Hoặc trên tiêu bản có khí hư, gió dung dịch KOH 10% có mùi tanh cá.

Điều trị: Ampicilline 2g/ngày trong 10 ngày hay Amoxieilline 1g/ngày trong 10 ngày.

Viêm tuyến Bartholin

Mầm bệnh thường do vi khuẩn lậu, các vi khuẩn khác như liên cầu, tụ cầu hoặc trực khuẩn Chlamydia từ viêm âm hộ nhiễm khuẩn lan đến tuyến Bartholin, có khi ống tiết bị tắc, tuyến biến thành nang và bị nhiễm khuẩn thứ phát, bệnh có thể gặp trong trường hợp cắt tầng sinh môn.

Viêm tuyến Bartholin có hai hình thái cấp và mạn tính.

Viêm tuyến Bartholin cấp:

Bệnh nhân đau ở vùng âm hộ, thường đau một bên, đi đứng đều đau. Viêm lúc đầu khu trú sau lan toả, phát triển có mủ.

Khám bằng cách nắn môi nhỏ giữa ngón cái và ngón trỏ sẽ thấy một khối có khi to bằng quả trứng rắn, tròn đều. Nắn thấy đau, bóp sẽ thấy mủ chảy ra ở cửa tuyến, ở mặt trong môi nhỏ.

Viêm tuyến Bartholin mạn:

Hình thái thường xảy ra sau đợt điều trị viêm tuyến Bartholin cấp, điều trị không triệt để hoặc đã chích.

Hoàn cảnh xuất hiện sau kinh nguyệt, hoặc mệt mỏi, sau giao hợp tuyến lại to lên, nắn thấy rắn, đau (không nhiều) và có ít mủ chảy ra.

Nang hóa:

Tuyến bị nang hoá sau viêm cấp, hay sau viêm mạn hoặc ống tiết bị tắc. Khi nang hóa, có thể sờ thấy khối cứng, khu trú ở một bên, nang có thể ở vị trí nông, sâu. Nếu bị nhiễm khuẩn, nang trở thành khối áp xe có mủ.

Cho mọi hình thái khi khám thực thể, cần lấy mủ tiết xác định loại vi khuẩn, đổng thời lấy bệnh phẩm cả ở niệu đạo, cổ tử cung để xét nghiệm vi khuẩn.

Điều trị: nôi khoa.

Do vi khuẩn Gr(+), Gr(-), điều trị bằng kháng sinh họ beta Lactamin, nhóm Cephalosporin (1 - 2 g/ngày trong 7 ngày).

Với các vi khuẩn kỵ khí Gr(+), Gr (-), hay lậu cầu khuẩn: penicillin pocain 5 x 106 Ul/ngày, trong 7 ngày, hoặc Spectinomycine 2 g/ngày, 1 lần. Cũng có thế điều trị với kháng sinh nhóm quinolone như Péfloxacine 800 mg/ liều duy nhất, hoặc Foxacine 200mg x 02 lần/ngày trong 05 - 07 ngày.

Với Chlamydia: doxycyclin 200 mg/ ngày, điều trị trong 10 ngày.

Ngoại khoa: Chích, mở rộng ống tiết, hủy các ngăn vách, dẫn lưu trong 2 - 3 ngày.

Với thể mạn tính hay nang hoá: Bóc tách vỏ, chú ý hay chảy máu vì có thể chạm thương vật hành xốp gây huyết tụ. Sau điều trị ngoại khoa, di chứng là giao hợp đau.

Viêm cổ tứ cung

Có 2 hình thái viêm cổ tử cung: viêm ngoài cố tử cung và viêm trong cổ tử cung. Viêm ngoài cổ tử cung hay gặp nhiều hơn.

Mầm bệnh trong viêm ngoài co tử cung cũng giống như trong viêm âm đạo (do Trichomonas âm đạo, nấm, vi khuẩn thường, vi khuẩn lậu) riêng viêm trong cổ tứ cung, các mầm bệnh chủ yếu là vi khuẩn lậu, Chlamydia, do vi khuân thường, virus herpet ít hơn.

Viêm ngoài cổ t cung:

Viêm ngoài cổ tử cung do Trichomonas, nấm, vi khuẩn thường: triệu chứng và chẩn đoán như trong viêm âm đạo.

Trong trường hợp viêm cổ tư cung do mầm bệnh phối hợp và tiến triển nặng hơn thì sẽ thấy ở cổ tử cung có diện loét nông hay sâu, biểu mô lát bị mất, tổn thương đỏ hơn chỗ binh thường. Diện loét bao quanh co tử cung, vết loét chảy máu khi chạm vào.

Làm nghiệm phấp với nitrat bạc 3% sẽ thấy bờ và đáy vết loét cố màu trắng. Viêm ngoài cổ tử cung thường hay phối hợp với lộ tuyến cổ tử cung.

Viêm ngoài cổ tử cung do lậu cầu khuẩn:

Viêm ngoài cổ tử cung do lậu cầu khuẩn sau khi đã gây viêm cấp tính ở âm hộ, âm đạo vi khuẩn lan tới cố tứ cung, cổ tứ cung đỏ tấy, sần sùi hoặc loét. Khí hư nhiều, xanh phối họp có mủ. Kèm theo triệu chứng chung là sót, đau hạ vị, đau vùng lưng, đái buốt. Xét nghiệm khí hư thấy lậu cẩu khuẩn.

Viêm trong cổ tử cung do lậu cấu khuẩn: khí hu ra nhiều, đục, màu xanh, có mù (có thể lẫn máu), cổ tử cung phình to, niêm mạc ống cổ tử cung đỏ, cặp cổ tử cung giữa hai ngành mỏ vịt thấy khí hư mủ chảy ra.

Xét nghiệm khí hư: nhiều bạch cầu, trên 10 bạch cầu trong một vi trường, có lậu cầu khuẩn.

Viêm trong cổ t cung do Chlamydia:

Viêm trong cổ tử cung do Chlamydia. Có thể không có triệu chứng, nhưng thường khí hư nhầy mủ, lây lan từ nam giới có viêm niệu đạo do Chlamydia.

Xét nghiệm ELISA với kháng thể đơn dòng (clôn), xét nghiệm đặc hiệu, nhưng kém nhạy với nhiễm khuẩn nhẹ.

Chẩn đoán:

Chẩn đoán phân biệt:

Với lộ tuyến cổ lử cung: Lộ tuyến cố tử cung là tốn thương trong đó biểu mô trụ của ống cổ tử cung phát triển và thay thế biểu mô lát cúa mặt ngoài cổ tứ cung bị huý hoại, về đại thể, nhìn lộ tuyến như là môt tổn thương loét, nếu làm nghiệm pháp acid acetic 3% sẽ thấy tổn thương màu trắng, có những hạt như chùm nho.

Với lao và ung thư cổ tứ cung. Trong viêm cổ tử cung, hình thái loét thì về đại thể, nhìn khó phân biệt được với loét do lao hay loét do ung thư. Diện loét lao, ung thư thường không đều, sần sùi, hoặc cục nhỏ, chạm vào dễ cháy máu. Để chẩn đoán xác dịnh cần phải chẩn đoán tế bào học khối u và sinh thiết đê xét nghiệm giải phẫu bệnh lý.

Hậu quả:

Viêm cổ tử cung cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây vô sinh nguyên phát. Do viêm nên chất nhầy cổ tử cung có thể đặc lẫn mú làm cản trở sự thâm nhập của tinh trùng. Điều trị khỏi viêm cổ tử cung thì lại có thai.

Với ung thư cổ tử cung. Viêm cổ tử cung là một trong những yếu tố thuận lợi cho việc phát sinh ung thư cổ tử cung. Trong lộ tuyến cổ tử cung, viêm đã biến đổi các tế bào biểu mô, gây những rối loạn về trưởng thành và biệt hoá của tế bào trong giai đoạn tái tạo của lộ tuyến. Một trong những biện pháp tích cực để phòng ung thư cổ tử cung là phải điều trị các tổn thương viêm cổ tử cung.

Điều trị:

Điều trị viêm cổ tử cung phải xác dinh dươc mầm bệnh, nguyên nhân của viêm cổ tử cung. Cách điều trị theo nguyên nhân đã được trình bày ớ phần viêm âm đạo hoặc viêm luyến Bartholin.

Viêm niêm mạc tứ cung

Trong phụ khoa, viêm niêm mạc tử cung ít gặp, mầm bệnh do vi khuân lậu (N.Gonorrhea) và Chlamydia.

Vi khuẩn lậu từ cổ tử cung lan từ dường sinh dục ngoài vào niêm mạc tử cung. Nói chung viêm niêm mạc tử cung thường kèm theo với viêm cổ tử cung và viêm phần phụ cấp tính.

Triệu chứng lâm sàng: sau giao hợp vài ngày khí hư ra nhiều, như mủ, đặc, mầu xanh. Tử cung to, nắn vào tử cung bệnh nhân kêu đau. Xét nghiệm hoặc cấy khí hư thấy vi khuẩn lậu.

Điều trị theo nguyên nhân. Ít gặp hình thái viêm niêm mạc tử cung mạn tính.

Viêm niêm mạc tử cung do Chlamydia thường chỉ gây khí hư nhầy, đục hoặc không có triệu chứng, chẩn đoán xác định dựa vào xét nghiệm khí hư lấy từ buồng tử cung, thường khó thực hiện.

Viêm phần phụ

Viêm phần phụ là loại nhiễm khuẩn khá phổ biến. Vòi trứng, buồng trứng, dây chằng đều có thể bị viêm nhiễm, nhưng tổn thương ở vòi trứng là quan trong. Tổn thương ở buồng trứng thường là xơ nang hoá.

Xác định tỷ lệ viêm phần phụ thường khó, nhất là ở những trường hợp viêm phần phụ do Chlamydia, mặt khác những bệnh lây truyền qua đường tinh dục là hình thức lan tniyền và làm tăng tỷ lệ viêm phần phụ. Dụng cụ tứ cung, những thú thuật ở tử cung cũng là nguyên nhân gây viêm phần phụ.

Các mẩm bệnh: Streptoeoccus, Staphylococcus, Colibacillus, Gardnerella vaginalis, Mycoplasme, Neisseria gonorrhea, Chlamydia...

Điều trị hình thái cấp phái triệt để, tránh để chuyển sang hình thái mạn. Hình thái mạn thường gây hậu quả vô sinh thứ phát và giám sức lao dộng.

Viêm phn phụ cấp tính:

Do vi khuẩn lậu hay vi khuẩn khác thì triệu chứng lâm sàng đều giống nhau, nhưng viêm phần phụ do vi khuẩn neisseria gonorrhea thì tiến triển và tiên lượng xấu hơn.

Triệu chứng:

Triệu chứng cơ năng: đau và sốt.

Đau: đau vùng hạ vị, thưòng đau cà hai bên hố chậu, nhưng bao giờ một bên cũng đau trội hơn bên kia. Đau liên tục, có lúc đau dữ dội hơn. Khi một bệnh nhân nữ đau ở hạ vị và ra khí hư thì phải nghĩ đến viêm phần phụ, vì trong viêm cổ tử cung không bao giờ đau ở hạ vị.

Sốt: nhiệt đổ tăng vừa phải, ít khi sốt cao, mạch nhanh.

Triệu chứng thực thể:

Nắn bụng: bệnh nhân thấy đau khi nắn vùng hạ vị, trên xương vệ.

Thăm hai bên túi cùng, bệnh nhân đau chói, một bên có thể đau nhiều hơn bên kia.

Thăm âm đạo kết hợp với nắn bụng sẽ thấy:

Khối nề cạnh tử cung, là triệu chứng quan trọng. Khi quá trình viêm chưa lan toá, sờ nắn thấy vòi trứng căng thành một khối có ranh giới, ấn vào rất đau. Viêm nhiễm lan toả thì các bộ phần chung quanh dính với vòi trứng làm thành một khối nề to, không ranh giới, rất đau, khi đó thành bụng sẽ có phản ứng.

Một dấu hiệu nữa di động tử cung khó và rất đau vì các bộ phận trong tiểu khung đã dính vào với nhau.

Chẩn đoán:

Chẩn đoán xác định: dựa vào tiền sử có bị bệnh lây truyền qua dường tình dục, hoặc nhiễm khuẩn sau một thủ thuật ở buồng tử cung và các triệu chứng đau hạ vị, sốt, có khối nề cạnh tử cung, ấn đau.

Chẩn đoán phán biệt với:

Viêm ruột thừa: viêm phần phụ thường đau cả hai bẽn, điêm đau của phần phụ bên phải thấp hơn điểm đau viêm ruột thừa. Trong viêm ruột thừa, nắn cùng đồ bên không đau. Nằm nghỉ, chườm đá thì các triệu chứng viêm phần phụ sẽ giám.

Viêm phúc mạc tiểu khung: thường xảy ra sau sẩy thai, sau đẻ. Thể trạng nhiễm khuẩn rõ, sốt cao dao động, vùng hố chậu có phản ứng thành bụng.

Viêm tổ chức quanh tiểu khung: chỉ xảy ra do bị nhiễm khuẩn sau đó, trong trường hợp cổ tử cung bị rách kéo lên cao, sau sấy thai. Nhiễm khuẩn từ dưới lan lên đáy dây chằng rộng. Ba, bốn ngày sau đẻ, sẩy thai bệnh nhân sốt, đau hạ vị, vùng bẹn, có dấu hiện viêm cơ đáy chậu. Khám thấy khối nề cứng, ở thấp hơn so với viêm phần phụ.

U nang buồng trứng xoắn: trong trường hợp này thì đau đột ngột, dữ dội hơn. Khám thấy ở phần phụ một khối tròn hơn, cùng đồ bên không đau. Không có tiền sử nhiễm khuẩn đường sinh dục.

Chửa ngoài tử cung: có tiền sử như có thai. Đau thường ở một bên hố chậu. Khám thấy khối đau bờ không rõ cạnh tử cung. Xét nghiệm hCG dương tính, không có dấu hiệu nhiễm khuẩn đường sinh dục.

Tiến triển: phụ thuộc vào cách điều trị có khẩn trương, tích cực hay không.

Tiến triển tốt: khỏi về lâm sàng, hết sốt và đau, toàn thân khá lên. Tuy nhiên, về mặt giải phẫu bệnh thường có những tổn thương mạn ớ ông dẫn trứng.

Tiến triển thành hình thái mạn: Các triệu chứng giảm di một thời gian, rồi tái phát một đợt bán cấp tính sau thủ thuật đốt điện cổ tử cung, chụp tử cung-vòi trứng, bơm hơi vòi trứng, hoặc sau một lao động nặng. Do vậy, làm thú thuật trên bệnh nhân có viêm phần phụ phải rất thận trọng.

Tiến triển thành ổ áp xe tiểu khung hoặc túi mủ vòi trứng. Khám thấy một khối căng mọng có bờ, ấn đau.

Các di chứng:

Tắc vòi trứng hay hẹp chít gây vô sinh thứ phát hay bị chửa ngoài tử cung.

Đau bụng mạn tính: đau tăng sau kinh nguyệt, sau giao hợp, làm việc nặng. Co kèm ra huyết giữa vòng kinh.

Điều trị: điều trị nội khoa là chính.

Kháng sinh: Làm kháng sinh đồ, lưu ý đến hiện nay chủng tụ cầu vàng đều kháng với kháng sinh họ penicillin. Có thể điều trị bằng kháng sinh họ Cephalosporin hay kháng sinh họ Lincosanid kết hợp một aminosid. Kháng sinh kéo dài thêm 3 - 5 ngày sau khi nhiệt độ bình thường.

Điểu trị toàn thân: nghỉ ngơi, chườm lạnh ở vùng hạ vị, sinh tố C liều cao, dinh dưỡng tốt và chống táo bón.

Điều trị ngoại khoa khi có biến chứng như apxe Douglas, chích rạch và dẫn lưu qua cùng đổ Douglas.

Viêm phần phụ mạn tính:

Sau điều trị viêm phần phụ cấp, tuy các triệu chứng lâm sàng giám, nhưng ở vòi trứng còn những ổ nhiễm khuẩn tiềm tàng, tổn thương giải phẫu bệnh lý tồn tại. Chlamydia thường khu trú tiềm tàng lâu dài ở vòi trứng, và thường không có triệu chứng lâm sàng.

Thương tổn vòi trứng có thể có những hình thái sau đây:

Tắc vòi trứng ở phần kẽ, eo.

Tắc ở loa vòi trứng, có kèm hay không với ứ nước vòi trứng.

Viêm vòi trứng dính với buồng trứng, với hố chậu.

Triệu chứng:

Triệu chứng cơ năng:

Đau: đây là triệu chứng phổ biến nhất. Đau vùng hạ vị, hay đau hai bên hố chậu. Đau thay đổi về cường độ, thời gian, từng cơn hay liên tục. Đau tăng lên khi làm việc nặng, đi lại nhiều. Nằm nghỉ thì bớt đau.

Đau làm ảnh hưởng đến năng suất lao động, buộc bệnh nhân phải nghỉ việc một thời gian.

Khí hư: trong đợt đau hay ra khí hư (khí hư từ vòi trứng vào buồng tử cung rồi ra ngoài trong mỗi cơn đau).

Có khi có ra máu thất thường trước và sau kinh nguyệt, hoặc rong kinh. Đó là do sự tồn tại các nang bọc noãn ở buồng trứng đa nang.

Đôi khi có những triệu chứng như hội chứng trong thời kỳ phỏng noãn: đau, ra huyết, khí hư. Có thể đủ cả ba triệu chứng hoặc không. Thường không sốt.

Triệu chúng thực thể:

Thăm âm đạo phối hợp với nắn bụng sẽ thấy: tử cung di động hạn chế, khi di động thì đau. Có thể nắn thấy khối viêm ở phần phụ, do vòi trứng dính vào buồng trứng làm thành một khối, vị trí khối này cạnh tử cung, ranh giới không rõ. Ấn vào khối bệnh nhân đau. Hoặc nắn thấy một dây rắn cạnh tử cung, túi cùng nề.

Chụp tử cung-vòi trứng có thể thấy hình ảnh vòi trứng giãn to. Việc chụp phải hết sức thận trọng, tránh gây viêm kịch phát và lan rộng.

Chẩn đoán:

Chẩn đoán xác dinh: dựa vào có tiền sứ viêm phần phụ cấp, dựa vào các triệu chứng kể trên cộng với khám thực thể có đau cạnh tử cung, và tử cung kém di động.

Chẩn đoán phân biệt:

U nang buồng trứng: Khi viêm phần phụ có ứ nước vòi trứng thì triệu chứng thực thể rất giống với u nang buồng trứng nhỏ.

Chửa ngoài tử cung (thể chưa vỡ). Trong thòi kỳ phóng noãn, đôi khi viêm phần phụ hCG (-) có đau, ra huyết bất thường nên triệu chứng giống như chửa ngoài tứ cung. Trong viêm phần phụ nếu bệnh nhân được nghỉ, chườm đá, các triệu chứng sẽ giảm.

Tiến triển: thường kéo dài, bệnh nhân hay bị đau tái phát sau lao động nặng, đi lại nhiều.

Có khi tái phát thành đợt cấp tính sau thủ thuật ở cổ tử cung, hay ở buồng tử cung.

Điều trị: điều trị nội khoa là chính: Nghỉ ngơi, làm việc nhẹ, tránh đi lại nhiều, sinh hoạt điều độ.

Khi đau nhiều, ra khí hư: điều trị bằng kháng sinh nhóm Lincosanid phối hợp với Aminosid.

Điều trị tại chỗ bằng lý liệu pháp sóng ngắn. Các sóng tạo nên ở dòng điện có tần số cao kích thích khả năng trao đổi tế bào, sức đề kháng tế bào được tăng cường. Chạy sóng ngán từ 10 - 12 buổi, mỗi lần từ 15 phút đến nửa giờ, và không điệu trị sóng ngắn ở hình thái bán cấp, trong lúc có kinh.

Điều trị ngoại khoa: rất hãn hữu. Áp dụng khi viêm phẩn phụ có biến chứng đau nhiều, liên tục có khối rõ, ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng lao động, bệnh nhân không có nguyện vọng sinh đẻ nữa. Mổ cắt tử cung bán phần và cả khối phần phụ dính gồm vòi trứng, buồng trứng.


Bài xem nhiều nhất

Bài giảng thai chết lưu

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai chết lưu và cũng có nhiều trường hợp thai chết lưu mà không tìm được nguyên nhân. Người ta cho rằng có từ 20 đến 50% số trường hợp thai chết lưu không tìm thấy nguyên nhân.

Bài giảng sự thụ thai, làm tổ và phát triển của trứng

Giới tính của thai được quyết định ngay khi thụ tinh. Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể giới tính Y thì sẽ phát triển thành thai trai (46XY). Ngược lại nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể giới tính X thì sẽ phát triển thành thai gái (46 XX).

Bài giảng chửa trứng

Thai chết lưu: Dễ nhầm trong trường hợp chửa trứng bán phần. Thai chết lưu thường tử cung nhỏ hơn so với tuổi thai, vú căng có thể có tiết sữa, phản ứng sinh vật âm tính.

Bài giảng chảy máu trong 6 tháng đầu của thời kỳ thai nghén

Khám toàn trạng bệnh nhân có thể thấy tình trạng thiếu máu do chảy máu kéo dài, hoặc bệnh nhân trong tình trạng choáng có rối loạn huyết động học vì mất  máu cấp.

Bài giảng viêm âm đạo, cổ tử cung

Khi âm đạo  bị viêm nhiễm, chất dịch tiết ra nhiều, gây khó chịu làm cho người phụ nữ lo lắng, trong trường hợp này dù màu sắc như thế nào trắng hay vàng, có mùi hay không đều là bệnh lý.

Bài giảng rau tiền đạo

Phần lớn bánh rau bám vào thân tử cung, chỉ một phần nhỏ bám vào đoạn dưới, không gây chảy máu, thường hay gây vỡ ối sớm. Đa số được chẩn đoán hồi cứu sau khi sổ rau:  đo màng dưới 10 cm, từ bờ bánh rau tới vòng Banld.

Bài giảng song thai (thai đôi)

Trên siêu âm chúng ta nhìn thấy 1 bánh rau, 2 buồng ối mà vách ngăn 2 buồng ối mỏng, không thấy dấu hiệu Lambda. Đó là song thai 1 bánh rau, 2 buồng ối và là song thai 1 noãn.

Bài giảng đa ối (nhiều nước ối)

Bình thường lượng nước ối khoảng 300 - 800ml, từ 800 -1500ml gọi là dư ối. Đa ối khi lượng nước ối vượt quá trên 2000ml (con số này ít có ý nghĩa vì trên thực tế lâm sàng không thể ước lượng chính xác được lượng nước ối.

Bài giảng chửa ngoài tử cung

Vòi trứng bị rạn nứt dần, bọc thai bị sảy, máu chảy ít một rồi đọng lại một nơi nào đó trong hố chậu. Ruột, mạc nối lớn ở xung quanh bao bọc khu trú lại thành khối máu tụ.

Bài giảng thiểu ối (ít nước ối)

Mặc dù các bất thường chính của hệ thần kinh có thể có liên quan tới lượng nước ối bình thường và sự tăng lượng nước ối, nhưng chỉ trong một số trường hợp là có liên quan tới thiểu ối.

Bài giảng sự chuyển dạ

Cho tới nay người ta chưa biết rõ ràng và đầy đủ những nguyên nhân phát sinh những cơn co chuyển dạ. Người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải trình, có một số giả thuyết được chấp nhận.

Bài giảng sẩy thai

Tỷ lệ sẩy thai thực sự rất khó đánh giá vì nhiều trường hợp sẩy thai xảy ra trước khi người phụ nữ nhận biết được mình có thai. Tỷ lệ này được ước lượng từ 22-75%.

Bài giảng các chỉ định mổ lấy thai

Nhóm nguyên nhân do thai: thai to (32,7%), suy thai (27,2%), ngôi mông (24,7%), ngôi khác (6,7%), song thai (4,7%), mở hết không lọt (4,0%). Trong ngôi mông, 75% số trường phải mổ lấy thai, 25% đẻ đường dưới.

Bài giảng sức khỏe sinh sản vị thành niên

Quan hệ tình dục không an toàn có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong thanh thiếu niên đang là nỗi lo ngại của cộng đồng (lậu, giang mai, HIV...).

Bài giảng dân số kế hoạch hóa gia đình

Tuổi tốt nhất và hợp lý nhất để sinh đẻ là từ 22  đến 35 tuổi bởi vì ở lứa tuổi này người phụ nữ đã phatsa triển đầy đủ về thể chất, đã ổn định việc làm cũng như đã có những kiến thức về xã hội và trong cuộc sống gia đình.

Xem theo danh mục