Bài giảng viêm tủy và quanh chóp răng

Ngày: 9 - 11 - 2012

Đau tự nhiên thoáng qua từ 3-5 phút, đau tăng khi có kích thích (ngọt, chua, nóng, lạnh ..v..v), hết kích thích vẫn còn đau kéo dài một phút. Tính chất đau : đau nhói khu trú.


Bệnh lý tủy

Bệnh căn

Vi khuẩn

Phổ biến nhất. Vi khuẩn và độc tố của nó xâm nhập vào tủy qua ba đường:

Trực tiếp qua ống ngà.

Sự khu trú của vi khuẩn trong máu -> vào tủy răng.

Sự lan tràn của bệnh nha chu vào tủy.

Tự tạo

Do sự điều trị không đúng.

Mài răng: răng mài khô, nóng quá mức do ma sát.

Lấy dấu.

Miếng trám cộm.

Chấn thương khớp cắn, tai nạn.

Không rõ nguồn gốc: vd nội tiêu.

Lâm sàng

Viêm tủy có hồi phục

Đau tự nhiên thoáng qua từ 3-5 phút, đau tăng khi có kích thích (ngọt, chua, nóng, lạnh ..v..v), hết kích thích vẫn còn đau kéo dài một phút. Tính chất đau : đau nhói khu trú.

Trên phim không có dấu hiệu bệnh lý.

Không có tiền sử cơn đau trước đây

Viêm tủy không hồi phục

Cấp:

Đau tự phát.

Khi có kích thích cơn đau khởi phát và tiếp tục kéo dài khi hết kích thích. Đặt biệt rất đau với nóng.

Tính chất đau: đau nhói hay âm ỉ, khu trú hay lan tỏa. Đau từng cơn liên tục.

Mãn:

Nếu dịch viêm không được dẫn lưu, sau một thời gian tình trạng cấp tính sẽ chuyển sang giai đoạn im lặng, không có triệu chứng.

Chẩn đoán: dựa vào bệnh sử, tia X, lâm sàng.

Các dạng: Viêm tủy triển dưỡng.

Nội tiêu.

Vôi hóa ống tủy.

Bệnh lý vùng quanh chóp

Bệnh căn

Nhiễm khuẩn

Biến chứng từ bệnh lý tủy.

Bệnh nha chu.

Sang chấn

Mạnh.

Nhẹ, liên tục (chấn thương khớp cắn, miếng trám cộm).

Điều trị răng

Đưa dụng cụ điều trị đi quá chóp.

Đẩy mô tủy hoại tử ra vùng chóp.

Đẩy thuốc ra vùng chóp.

Lâm sàng

Viêm quanh chóp cấp (viêm khớp)

Có thể gặp ở một răng sống (do miếng trám cao, nghiến răng, cắn trúng sạn …) hay ở một răng tủy chết.

Dây chằng nha chu bình thường nhưng gõ rất đau, không dám cắn mạnh, răng lung lay và trồi. Cơn đau liên tục có lúc giảm nhưng không hết hẳn.

Chẩn đoán phân biệt với viêm tủy cấp.

Abces quanh chóp cấp: nặng nhất

Là kết quả của viêm quanh chóp cấp ở giai đoạn tiến triển trên một răng đã hoại tử tủy, có tình trạng viêm có mủ và lan tràn.

Đau dữ dội khi gõ, sờ. Tiến triển nhanh từ nhẹ đến sưng dữ dội. Biểu hiện toàn thân: sốt, mệt mỏi, có thể nổi hạnh dưới cằm hay dưới hàm, mặt sưng.

Viêm quanh chóp mãn

Là tình trạng viêm không có triệu chứng và lâu dài quanh chóp. Tuy nhiên hơi đau khi gõ sờ.

Răng có lỗ sâu, bình thường không có triệu chứng, thăm khám không đau.

Film có vùng thấu quang quanh chóp (u hạt, nang)

Tủy không đáp ứng với điện.

Viêm quanh chóp mãn có mủ

Giống như viêm quanh chóp mãn nhưng có sự hiện diện một lỗ dò  chứng tỏ có sự thành lập của mủ nhưng không có triệu chứng do mủ thoát ra ngoài qua lỗ dò.

Abces tái phát

Triệu chứng giống như abces quanh chóp nhưng xảy ra sau một thời gian viêm quanh chóp mãn. Film: có vùng thấu quang.

Xơ hóa xương quanh chóp

Là tình trạng khoáng hóa xương ở vùng quanh chóp.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh học nhiễm trùng răng hàm mặt

Triệu chứng tại chỗ: sưng che lấp các rãnh và lõm trên mặt, mặt sưng nhiều hay ít tùy vị trí răng nguyên nhân và độc tính loại vi khuẫn, da căng bóng, sờ hơi nóng, đỏ ít, không đau lắm, không in dấu ngón tay.

Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành

Sự hiện diện của tổn thương miệng nhất là Oral Candidiasis, Oral Hairy Leukoplakia, Herpes zoster và Herpes simplex nhiễm dai dẳng đều được đề cập đến trong hệ thống giám sát đối với nhiễm HIV.

Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV, AIDS

Bệnh nha chu liên quan đến nhiễm HIV thường có những biểu hiện trầm trọng hơn bệnh nha chu thông thường, đáp ứng kém hơn với điều trị cổ điển, tiến triển nhanh hơn, gây mất xương và lộ chân răng nhiều hơn.

Bài giảng viêm tủy và quanh chóp răng

Đau tự nhiên thoáng qua từ 3-5 phút, đau tăng khi có kích thích (ngọt, chua, nóng, lạnh ..v..v), hết kích thích vẫn còn đau kéo dài một phút. Tính chất đau : đau nhói khu trú.

Gãy xương hàm dưới

Bầm tím nướu + đáy hành lang và sàn miệng. Có thể rách niêm mạc nướu. Kẻ răng nơi đường gãy đi qua rộng ra, lung lay. Có thể gãy hoặc mất răng. Khớp cắn  sai ít.

Bệnh học bệnh nha chu

Dây chằng nha chu chiếm gần hết khoảng cách giữa răng và xương ổ tạo nên màng nha chu, có nhiều mạch máu và dây thần kinh tạo nên cảm giác xúc giác và định vị.

Nhiễm trùng tuyến nước bọt

Ở các bệnh nhân vừa mới đi làm  răng (nhất là gắn mắc cài chỉnh nha) hoặc bệnh nhân có thói quen cắn má, viêm tuyến mang tai ngược dòng (hay VTMT ứ đọng) (stasis, retrograde sialadenitis).

Khối u phần mềm vùng miệng

Khác với nang nhái, nang biểu bì bao giờ cũng ở chính giữa sàn miệng và đẩy lưỡi ra sau nên khi quá lớn gây khó thở.

Khối u phần xương hàm mặt

Do răng ngầm là 1 răng vĩnh viễn hay răng dư. Thường liên quan đến răng vĩnh viễn mọc trễ (R8 hàm dưới hay R3 hàm trên). Khi đó khám thấy thiếu một răng trên cung hàm.

Khối u phần mềm vùng nướu (lợi)

Do kích thích tại chỗ và sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ thai nghén (estrogen và progesteron).

Bài giảng răng và bộ răng

Tủy có 2 nhiệm vụ: tạo ngà và tiếp nhận cảm giác nhờ các dây thần kinh với các đầu tận cùng ở sát vách tủy hoặc chui vào các ống ngà.

Gãy xương tầng giữa mặt

Nếu gẫy xương thông thường: nên điều trị vào ngày thứ ba, thứ tư sau chấn thương lúc mặt đã đỡ phù nề, dễ tạo hình phục hồi lại hình dáng khối mặt và chức năng của nó. Không nên để trễ quá 7 ngày.

Bệnh học sâu răng

Các acid mạnh thường có sẵn từ các nguồn từ ngoài như carbohydrates ở nước ngọt, các loại nước ngọt tăng cường thể lực, nước chanh vắt và chất dịch hồi lưu bao tử hay ợ chua.

Xử trí ngoại khoa nhiễm trùng hàm mặt

Kháng sinh là là 1 chất có nguồn gốc sinh học hay tổng hợp, có tác dụng chống lại sự sống của vi khuẩn bằng cách tác động đặc hiệu lên 1 giai đọan chính trong sự chuyển hóa của vi khuẩn (kháng sinh kháng khuẩn) hay nấm (kháng sinh kháng nấm).

Khối u phần mềm vùng má trán

Do tính chất đa dạng về lâm sàng của u máu nói chung cũng như sự phức tạp trong tiến triển cộng với những tác động về mặt tâm lý, chức năng, vì thế việc điều trị u máu không thể theo một phác đồ hay công thức cố định nào cả.

Cấp cứu chấn thương hàm mặt

Nếu lưỡi có khuynh hướng tụt ra sau, cho bệnh nhân nằm đầu nghiêng 1 bên, dùng kẹp kéo lưỡi hoặc xỏ chỉ  qua đầu lưỡi kéo ra trước.