Giải phẫu bệnh viêm cổ tử cung

Ngày: 27 - 11 - 2012

Viêm do vi khuẩn quan trọng vì có thể đi kèm với nhiễm khuẩn lên nội mạc tử cung, vòi trứng và phúc mạc chậu, hoặc lây qua nhau và thai hay bé sơ sinh.


Viêm cổ tử cung không do vi khuẩn

Hầu hết viêm xảy ra do tác nhân cơ học hay hoá học và gây một phản ứng viêm không đặc hiệu. Các tác nhân có thể là những chất trong thuốc rửa âm đạo hay các chất lạ như băng vệ sinh đặt trong âm đạo, vòng pessaire hay vòng tránh thai đặt trong tử cung.

Viêm cấp cổ tử cung có sung huyết, phù nề mô đệm và xâm nhập bạch cầu đa nhân trong mô đệm và trong thượng mô.

Lâm sàng, cổ tử cung sưng đỏ, phù nề, có thể có huyết trắng.

Viêm mạn tính cổ tử cung có xâm nhập nhiều limphô bào. tương bào và mô bào. Mô đệm xơ hoá hay có dạng mô hạt.

Đôi khi có các nang limphô ở sát dưới lớp thượng mô.

Viêm cổ tử cung do nhiễm khuẩn

Các tác nhân có thể

Tạp khuẩn, kỵ khí hay ái khí có sẵn trong âm đạo.

Chlamydia trachomatis.

Lậu cầu khuẩn.

Mycoplasma hominis.

Liên cầu khuẩn nhóm B.

Ureaplasma ureolyticum.

Gardenerella vaginalis.

Actinomyces israeli.

Mycobacterium tuberculosis.

Treponema pallidum.

Các virus có thể

Human papilloma virus (HPV).

Herpes simplex virus (HSV).

Cytomegolovirus (CMV).

Nấm gây nhiễm khuẩn cổ tử cung có thể

Candida albicans.

Aspergillus.

Các ký sinh trùng và nguyên sinh động vật có thể

Trichomonas vaginalis.

Amíp.

Schistosoma.

Viêm do vi khuẩn

Viêm do vi khuẩn là nguyên nhân phổ biến nhất.

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến viêm cổ tử cung như độc tính của vi khuẩn, thượng mô nguyên vẹn hay không và độ pH âm đạo.

Nhiều trường hợp nhiễm khuẩn do các tạp khuẩn cơ hội ái khí hay kỵ khí có sẵn trong âm đạo và nhiễm khuẩn xảy ra khi có teo đét thượng mô, chấn thương, loét, thay đổi pH âm đạo hay ứ đọng tiết dịch.

Viêm do Chlamydia và lậu cầu khuẩn là bệnh hoa liễu lây lan qua đường sinh dục.

Viêm do vi khuẩn quan trọng vì có thể đi kèm với nhiễm khuẩn lên nội mạc tử cung, vòi trứng và phúc mạc chậu, hoặc lây qua nhau và thai hay bé sơ sinh.

Viêm mạn tính cổ tử cung thường là điểm khởi đầu trong bệnh sinh của bệnh viêm phúc mạc vùng chậu, nó cũng là nguồn gốc của viêm nội mạc tử cung sau sẩy thai hay sau sanh.

Nhiễm khuẩn cổ tử cung có thể dẫn đến sẩy thai tự nhiên, sanh non, viêm màng ối, thai chết lưu hay viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh.

Nhiễm Chlamydia trachomatis: Đứng hàng đầu ở phương tây: viêm thường kèm các thể vùi trong bào tương tế bào thượng mô và có hình ảnh viêm cổ tử cung có nang limphô. Vi khuẩn thường tấn công thượng mô trụ, do đó âm đạo rất ít khi bị viêm.

Phụ nữ nhiễm Chlamydia có huyết trắng xanh, vàng như mủ, chảy ra từ cổ trong tử cung và có hơn 10 bạch cầu trên quang trường x 100, trên phết huyết trắng.

Viêm cổ tử cung thường kèm với viêm niệu đạo và viêm trực tràng do Chlamydia.

Chẩn đoán viên do Chlamydia dựa trên cấy miễn dịch huỳnh quang hay kháng thể đơn dòng với Chlamydia trachomatis bằng kỹ thuật miễn dịch men.

Viêm cổ tử cung do Chlamydia trong 40% trường hợp có kèm với viêm nội mạc tử cung và trong 11% trường hợp có kèm với viêm vòi trứng.

Di chứng của bệnh viêm này là viêm phúc mạc vùng chậu, vô sinh do nghẹt vòi trứng, và bệnh viêm phổi ở bé sơ sinh.

Nhiễm Actinomyces israeli: Thường gặp ở người có vòng tránh thai hay có nạo thai dụng cụ.

Tổn thương viêm có dạng lấm tấm màu vàng, được gọi là các hạt sulfur. Các hạt này gồm các sợi gram dương tính chia nhánh. Các Actinomyces được thấy ở giữa các ổ áp xe lớn hay trong mô hạt viêm, gây xơ hóa nhiều ở cổ tử cung.

Nhiễm lao ở cổ tử cung: Thường thứ phát, sau lao vòi trứng và lao nội mạc tử cung và thường đi kèm với lao phổi.

Xuất độ lao tử cung ở nhóm bệnh nhân lao đường sinh dục chiếm từ 2-60%.

Đại thể:

Cổ tử cung bình thường hay viêm hay sùi như trong ung thư xâm nhập ở cổ tử cung.

Vi thể: tổn thương gồm các nang lao với hoại tử bã đậu ở trung tâm, thoái bào và đại bào Langhans, vòng ngoài nang lao là các limphô bào.

Cần chẩn đoán phân biệt nang lao với các bệnh có dạng viêm hạt như mô hạt viêm với đại bào ăn dị vật, viêm hạch liễu (lymphogranuloma venereum), nhiễm Schistosoma, hay bệnh sarcoid.

Viêm do virus

Trái ngược với viêm do vi khuẩn, viêm do virus thường tấn công thượng mô lát tầng cổ tử cung.

Nhiễm virus Herpes: Ít hay không có triệu chứng lâm sàng nên xuất độ bệnh ở cổ tử cung khó xác định rõ ràng, từ 9-22% bệnh nhân đi khám phụ khoa nhiễm bệnh.

Tác nhân gây bệnh là HSV típ 2 và đôi khi HSV típ 1.

HSV1 chủ yếu gặp ở vùng miệng hầu (Herpes buccalis).

Nhiễm HSV2 thường qua giao hợp ở phụ nữ trẻ. 3-7 ngày sau khi bị nhiễm, bệnh nhân có các triệu chứng, vì thường ở âm hộ, âm đạo vùng hội âm và cổ tử cung có những ổ loét nông, rất đau. Nếu có loét ở âm hộ, bệnh nhân đau nhức âm hộ, đi tiểu đau, có nhiều huyết trắng như nước.

Bệnh ở cổ tử cung có thể được chẩn đoán bằng cấy virus, huyết thanh trung hòa kháng thể và các phết tế bào âm đạo, cổ tử cung. Trên phết tế bào, có nhiều tế bào lớn, nhiều nhân, với các thể vùi virus trong nhân.

Nếu sinh thiết một bọc nước, ta thấy bọc nước ở trên lớp đáy thượng mô, trong có các tế bào thượng mô thoái hoá, đại bào nhiều nhân với thể vùi trong nhân màu đỏ eosin.

Chẩn đoán bằng tế bào học hay bằng phân lập virus hữu hiệu nhất trong vòng 2-3 ngày sau khi có triệu chứng lâm sàng.

Nhiễm Herpes virus có 2 di chứng, một là gây sẩy thai tự nhiên, tử vong và bệnh tật ở thai nhi. Hai là có vai trò trong bệnh sinh của carcinom cổ tử cung. Virus HSV 2 có thể có vai trò cộng hưởng với HPV trong bệnh sinh của carcinom cổ tử cung.

Viêm do virus HPV: Đóng vai trò quan trọng trong hình thành tân sinh trong thượng mô cổ tử cung (CIN).

90% condylom cổ tử cung do HPV là condylom phẳng. U giới hạn rõ, hơi cao hơn thượng mô xung quanh, có màu trắng sau khi được chấm acid acêtic 5%. Condylom phẳng thường gặp ở nhiều nơi, trên lớp thượng mô lát tầng cổ ngoài hay trên vùng biến đổi, với thượng mô gai chuyển sản.

U có thể kèm với condylom ở âm đạo, âm hộ. Nếu có condylom âm hộ, hơn 70% có kèm condylom âm đạo hay condylom cổ tử cung.

Condylom sùi thường gặp hơn ở thượng mô hội âm và âm hộ. U thường gặp ở phụ nữ trẻ và lây lan qua đường sinh dục. Khi mang thai, u thường tăng trưởng và phát triển ở nhiều nơi. U có thể gây bệnh đa u nhú thanh quản ở các bé sơ sinh đẻ ra từ mẹ mang condylom đường sinh dục.

Nhiễm HPV thể hiện qua các thay đổi tế bào đặc thù là tế bào rỗng và các đặc điểm khác như tế bào bề mặt và trung gian to nhỏ không đều, nhân vón, chất nhiễm sắc đậm màu, tế bào 2 nhân, tế bào nghịch sừng.

Tế bào rỗng là những tế bào trung gian hay bề mặt có kích thước lớn, với bờ bào tương không đều, quanh nhân có một vùng lớn, sáng, bờ rõ, bào tương đậm đặc và ở sát màng bào. Tế bào rỗng thường có 2 nhân, nhân vón, tỷ lệ nhân trên bào tương tăng. Tế bào rỗng là hậu quả của virus xâm nhập làm chết tế bào sớm, và thường gặp trong 1/3 trên của thượng mô gai.

Về mô học, dưới độ phóng đại nhỏ, có nhiều nhân to bất thường nằm rải rác trong lớp màng của thượng mô gai. Lớp Malpighi tăng sản và có thể có dạng nhú. Các tế bào gai hoá sừng bất thường và được gọi là tế bào nghịch sừng. Bề mặt lớp thượng mô gai sừng hoá hoặc cận sừng hoá.

60% condylom tự thoái triển, 30% tồn tại và 10% có thể hoá ung thư.

HPV típ 6 và 11 thường gặp trong các condylom lành tính, còn các HPV típ 16, 18, 31, 32, 36 được phát hiện trong CIN và trong carcinom xâm nhập.

Viêm do CMV (cytomegalovirus) thường hiếm gặp.

Viêm do nấm

Viêm cổ tử cung do nấm Candida albicans thường đi kèm với viêm âm đạo và viêm âm hộ.

Viêm nấm thường gặp ở phụ nữ có pH âm đạo hoá kiềm, có sử dụng trụ sinh nhiều, hoặc bị tiểu đường không được điều trị đúng mức.

Huyết trắng do nhiễm nấm thường nhớt có những mảng trắng và rất ngứa.

Viêm cổ tử cung do nấm, phết tế bào âm đạo cổ tử cung thường thấy các sợi tơ nấm và men nấm.

Aspergillus hiếm gặp, thường ở người có suy giảm miễn dịch.

Viêm do ký sinh trùng và nguyên sinh động vật

Viêm âm đạo cổ tử cung do Trichomonas vaginalis khá phổ biến. Huyết trắng màu vàng xanh, có bọt như xà phòng. Viêm cổ tử cung cấp do Trichomonas thường gây viêm nặng với các tế bào gai tróc và trụ bất thường do hiện tượng tu bổ. Các tế bào tróc có nhân to hơn bình thường, đậm màu, có vòng sáng quanh nhân, bào tương ưa eosin. Có thể thấy nhiều Trichomonas hình bầu dục hay quả lê, kích thước cỡ tế bào cận đáy, nhân nhỏ, nằm lệch, bắt màu lợt. Ít khi thấy được roi của nguyên sinh động vật này.

Viêm loét, hoại tử ở cổ tử cung do amíp hiếm gặp.

Viêm do nhiễm Schistosoma haematobium. Hiếm hơn do Schistosoma mansoni thì lại rất phổ biến ở Phi châu (Ai cập), Nam Mỹ, Puerto Rico và nhiều nước Á châu.

Triệu chứng viêm không đặc hiệu với ra huyết trắng, ra huyết, đau bụng và thường gây vô sinh.

Vi thể:

Mô hạt viêm với trứng Schistosoma ở giữa, bao quanh là các đại bào nhiều nhân, và thường có ở vùng tiếp giáp gai-trụ. Trứng có thể hoá vôi.

Viêm cổ tử cung do Schistosoma thường kèm với nhiễm Schistosoma ở đường tiết niệu.

Nếu không điều trị, bệnh có thể sinh ung, loại carcinom cổ tử cung.


Bài xem nhiều nhất

Giải phẫu bệnh hạch lympho

Bệnh Hodgkin được mô tả lần đầu tiên do Thomas Hodgkin (vào năm 1832), bởi sự quan sát đại thể hạch lymphô; Thuật ngữ bệnh Hodgkin được Wilks áp dụng (vào năm 1865).

Giải phẫu bệnh của tuyến nước bọt

Nhiều túi tuyến bị phá hủy, thay bằng mô sợi, kèm thấm nhập limphô bào, tương bào. Các ống và các túi tuyến còn lại thường bị dãn.

Giải phẫu bệnh u và tổn thương dạng u xương

Nhiều loại u có tính chất lành hay ác khó xác định nhưng xâm lấn phần mềm, có khả năng tái phát và di căn. Ví dụ u đại bào, u sụn sợi nhầy, u nguyên bào sụn...Chúng tôi xếp vào nhóm giáp biên ác

Giải phẫu bệnh u lành phần mềm

Hình ảnh vi thể đặc hiệu là có rất nhiều thực bào với không bào lớn chứa các chất dạng mỡ, ngoài ra còn có các tế bào hình thoi tạo sợi và đôi khi có đại bào đa nhân.

Giải phẫu bệnh ruột non

Lớp thượng mô lót bởi các hốc khác với lớp thượng mô của nhung mao. Có 4 loại tế bào thượng mô của hốc: tế bào Paneth, tế bào không biệt hoá, tế bào đài và tế bào nội tiết.

Giải phẫu bệnh tuyến giáp

U giả, được hình thành do sự tồn tại của mô ống giáp-lưỡi, tiến triển rất chậm, 1/3 trường hợp có từ lúc mới sinh, 2/3 trường hợp chỉ xuất hiện khi bệnh nhân lớn.

Giải phẫu bệnh Carcinom vú

Phụ nữ có tiền căn ung thư vú, ung thư buồng trứng hoặc ung thư nội mạc tử cung (ở phụ nữ có tiền căn ung thư cổ tử cung thì xuất độ ung thư vú ít hơn).

Giải phẫu bệnh khối u

Đặc điểm mô học đặc trưng biểu thị cho ung thư rất đáng tin cậy ở nhiều cơ quan, mặc dù vậy, các điểm đặc trưng của mô học không phải lúc nào cũng cho phép phân biệt u lành tính và ung thư.

Giải phẫu bệnh của tuyến vú

Trong lúc có thai, thay đổi sớm nhất là tuyến vú cứng chắc thêm, nẩy nở các tĩnh mạch dưới da, kèm theo hiện tượng tăng sắc tố ở quầng vú và núm vú.

Giải phẫu bệnh viêm lao

Trực khuẩn lao không có ngoại độc tố hoặc nội độc tố nhưng thành phần hóa học cấu tạo vi khuẩn đã tác động gây bệnh trên cơ thể người.

Giải phẫu bệnh bệnh của miệng và xương hàm

Một loại không thường gặp là u nguyên bào cơ có hạt ở lưỡi, có hình thái giống u cùng tên ở nơi khác, gồm những tế bào to với bào tương có hạt, được phủ bởi lớp thượng mô tăng sản.

Giải phẫu bệnh các yếu tố và giai đoạn của viêm

Do tác động của viêm kéo dài, pH môi trường tiếp tục giảm thấp tới 5,3 làm các tế bào giải phóng lysosom (thể tiêu) chứa nhiều enzym thủy phân như amino-peptidaza, ribonucleaza.

Giải phẫu bệnh của ruột thừa

Bệnh có thể có ở mọi tuổi nhưng xuất độ bệnh cao nhất xảy ra ở thanh niên và người trẻ. Nam giới có xuất độ bệnh cao gấp 5 lần nữ giới.

Giải phẫu bệnh u hệ thần kinh

Những điểm quan trọng: u tế bào thần kinh đệm ít nhánh, ít xâm nhập hơn so với u sao bào; đáp ứng với hóa trị liệu tốt hơn.

Tổn thương cơ bản của tế bào và mô

Sự chết của tế bào phóng thích các enzym nội bào vào máu. Các enzym này trong máu có thể đo lường và sử dụng trên lâm sàng để phát hiện bệnh và theo dõi điều trị, ví dụ trong nhồi máu cơ tim.

Giải phẫu bệnh u ác tính cổ tử cung

Tăng sản thượng mô với tế bào tương đối non, mất cực tính. Các tế bào dạng đáy hay dạng cận đáy chiếm từ 1/3 đến hầu hết bề dày lớp thượng mô.

Giải phẫu bệnh bệnh thực quản

Vòng thực quản đoạn trên có dạng một vòng xiết ở đoạn trên cung động mạch chủ. Bệnh thường gặp ở phụ nữ trên 40 tuổi, có bệnh thiếu máu nhược sắc trong hội chứng Plummer-Vinson.

Giải phẫu bệnh u đại tràng

Bệnh có ở mọi tuổi, nhưng thường được chẩn đoán ở bệnh nhân 60 đến 70 tuổi, nhân lúc bệnh nhân được khám bằng soi đại tràng sigma, nội soi đại tràng và X.quang cho các bệnh khác (ví dụ: ung thư đại tràng).

Giải phẫu bệnh ung thư dạ dày

Ở những vùng có nguy cơ mắc bệnh thấp, tuổi có xuất độ bệnh cao là từ 50-60 tuổi, chỉ có 5% bệnh nhân ở tuổi dưới 40.

Giải phẫu bệnh tuyến tiền liệt

Tổn thương viêm cấp có thể chỉ là các ổ áp xe nhỏ, nhiều chỗ, có thể là vùng hoại tử do khu trú, hoặc là tình trạng hoá mủ, sung huyết, phù toàn bộ tuyến. Tuyến tiền liệt thường bị phì đại, mềm và xốp.

Giải phẫu bệnh u phúc mạc

Đó là những khối dạng bọc, to hoặc nhỏ, ở mạc treo ruột hoặc dính vào phúc mạc dọc theo thành bụng. Có thể chẩn đoán nhầm với các u khác trong bụng.

Giải phẫu bệnh u lành tuyến vú

Các đám tuyến tròn hoặc bầu dục, được lót bởi một hay nhiều lớp tế bào hình trụ hoặc đa diện. Màng đáy còn nguyên và rõ. Mô liên kết bao quanh, chèn ép các đám ống tuyến.

Giải phẫu bệnh tinh hoàn

Tinh hoàn có các nang lao hoặc có phản ứng tế bào với thấm nhập bạch cầu đa nhân, tương bào, tế bào thượng mô tróc, tế bào đơn nhân, đại bào nhiều nhân và vi trùng lao.

Giải phẫu bệnh u mầm bào buồng trứng

U có đường kính 17cm, có vỏ bao, mặt trơn láng, mặt cắt mềm, trắng xám hay trắng vàng, không đồng nhất. U có rải rác các nang nhỏ chứa chất nhầy và các vùng hoại tử và xuất huyết.

Giải phẫu học cổ tử cung trong giải phẫu bệnh

Cổ tử cung được bao phủ bởi hai lớp thượng mô: thượng mô gai cổ ngoài và thượng mô trụ cổ trong.

Xem theo danh mục