Chăm sóc trẻ bị bệnh tiêu chảy cấp

Ngày: 5 - 11 - 2014

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi.


Định nghĩa

Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ

Nếu ỉa chảy không quá 14 ngày gọi là tiêu chảy cắp.

Nếu ỉa chảy trên 14 ngày gọi là tiêu chảy kéo dài.

Tiêu chảy mãn là tiêu chảy mà nguyên nhân của nó là do rối loạn về cấu trúc hay hê thống men của ống tiêu hoá và thường là các bệnh bẩm sinh hoặc di truyền.

Đợt tiêu chảy là thời gian kể từ ngày đầu tiên bị tiêu chảy tới ngày mà sau đó hai ngày liền phân của trẻ bình thường.

Ví dụ: một trẻ ỉa chảy 3 ngày liền, ngày thứ 4 trẻ không ỉa, rồi sau đó lại ỉa chảy trong 3 ngày nữa, sang ngày thứ 8 và ngày thứ 9 trẻ ỉa bình thường, như vây đợt tiêu chảy của trẻ là 7 ngày (3 + 1 + 3 = 7). Nếu ngày thứ 10 trẻ ỉa phân lỏng 4 lần là trẻ lại bắt đầu một đợt tiêu chảy mới.

Tiêu chảy cấp là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong ngày (24 giờ) và kéo dài không quá 14 ngày

Tiêu chảy kéo dài là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong ngày (24 giờ) và kéo dài trên 14 ngày

Nguyên nhân

Tác nhân gây bệnh

Virus:

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi. Ước tính có đến 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus. Virus xâm nhâp vào trong liên bào ruột non, không ngừng nhân lên, phá huỷ cấu trúc liên bào, làm cùn nhung mao ruột, gây rối loạn men tiêu hoá đường Lactose của sữa mẹ, làm tăng xuất tiết nước và điên giải vào trong lòng ruột.

Vi khuẩn:

Nhiều loại vi khuẩn có thể gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em:

Coli đường ruột gây 25% tiêu chảy cấp. Có 5 nhóm gây bệnh là:

Coli sinh độc tố ruột (Enterotoxigenic Esherichia Coli).

Coli bám dính (Enteroadherent Esherichia Coli).

Coli gây bệnh (Enterpathogenic Esherichia Coli).

Coli xâm nhâp (Enteroinvasive Esherichia Coli).

Coli gây chảy máu (Enterohemorhagia Esherichia Coli).

Trong 5 loại trên, Coli sinh độc tố ruột (ETEC) là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp, phân toé nước ở người lớn và trẻ em ở các nước đang phát triển. ETEC không xâm nhâp vào niêm mạc ruột mà gây tiêu chảy bằng các độc tố không chịu nhiệt là LT (heat labile toxin) và độc tố chịu nhiêt ST (heat stable toxin) với cơ chế gần giống tả.

Trực trùng lị Shigella:

Trực trùng lị Shigella là tác nhân trong 60% các đợt lị. Trong các đợt lị nặng có thể ỉa phân toé nước trong những ngày đầu bị bệnh. Trong 4 nhóm huyết thanh S. Plexneri, S. Dysenteriae, S. Boydi và S. Sonei, nhóm phổ biến nhất tại các nước đang phát triển là S. Plexneri.

Campylobacter Jejuni:

C. Jejuni gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc với phân, uống nước bẩn, ăn sữa và thực phẩm bị ô nhiễm. C. Jejun i gây tiêu chảy toé nước ở 2/3 trường hợp và gây nên hội chứng lị có sốt ở 1/3 số trường hợp còn lại. bệnh diễn biến nhẹ, thường khỏi sau 2 - 5 ngày.

Salmonella không gây thương hàn:

Lây bệnh do tiếp xúc với súc vật nhiễm trùng hoặc thức ăn động vật bị ô nhiễm. Đây là nguyên nhân phổ biến ở các nước sử dụng rộng rãi các loại thực phẩm chế biến kinh doanh. Salmonella thường gây tiêu chảy phân toé nước, đôi khi cũng biểu hiên như hội chứng lị. Kháng sinh không những không có hiệu quả mà có thể còn gây chậm đào thải vi khuẩn qua đường ruột.

Phảy khuẩn tả Vibrio Cholerae 01:

Có 2 typ sinh vật (typ Cổ điển và Eltor) và 2 typ huyết thanh (Ogawa và Inaba). Phảy khuẩn tả 01, sau khi qua dạ dày đến cư trú ở phần dưới hổi tràng và sản sinh ra độc tố CT (cholera toxin). Đơn vị B của CT gắn vào bộ phận tiếp nhận đặc hiệu của liên bào ruột non rổi giải phóng ra đơn vị A. Đơn vị A đi vào tế bào ruột, hoạt hoá men Adenylcyclase để chuyển ATP thành AMP -vòng. Sự gia tăng AMP-vòng đã ức chế hấp thu Natri theo cơ chế gắn với Clo, gây nên tình trạng xuất tiết ổ ạt nước và điện giải ở ruột non, dẫn đến mất nước nặng trong vài giờ và có thể gây thành dịch tả cho trẻ em.

Kí sinh trùng:

Entamoeba hystolytica:

Entamoeba hystolytica xâm nhập vào liên bào đại tràng hay hổi tràng, gây nên các ổ áp xe nhỏ, rổi loét, làm tăng tiết chất nhày lẫn máu.

Giardia lamblia:

Là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non, làm teo các nhung mao ruột, dẫn đến giảm hấp thu, gây ra ỉa chảy.

Cryptosporidium:

Cryptosporidium thường gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và cũng gây bệnh ở nhiều loại gia súc. Chúng bám dính lên liên bào ruột non, làm teo nhung mao ruột, gây tiêu chảy nặng và kéo dài. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

Nấm:

Candida albicance có thể là nguyên nhân gây tiêu chảy. Bệnh thường xuất hiện ở bệnh nhi sau khi dùng kháng sinh kéo dài hoặc đối với trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) trong giai đoạn cuối.

Các yếu tố nguy cơ

Cấc yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy:

Tuổi: Trẻ dưới 2 tuổi hay bị tiêu chảy, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 6 - 11 tháng (trẻ trong giai đoạn ăn sam).

Tình trạng suy dinh dưỡng: Trẻ SDD dễ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh lại thường nặng, dễ gây tử vong.

Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, bị AIDS thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy.

Cơ địa: Trẻ đẻ non, đẻ yếu.

Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy:

Trẻ không bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp.

Cho trẻ bú chai, vì chai và vú cao su rất khó rửa sạch.

Ăn sam sớm, thức ăn để lâu.

Sử dụng nguổn nước bị ô nhiễm.

Chế độ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống kém.

Tính chất mùa:

Tiêu chảy do virus thường xảy ra vào mùa đông.

Tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa h è.

Cấc nhiễm khuẩn ngoài ruột cũng cố thể gây ỉa chảy:

Viêm phổi.

Viêm tai giữa, viêm tai xương chũm.

Nhiễm trùng đường tiết niệu.

Dùng kháng sinh:

Trẻ được dùng kháng sinh bừa bãi, nhất là các loại kháng sinh dùng bằng đường uốn g sẽ tiêu diệt hết các vi khuẩn có lợi cho cơ thể, gây nên ỉa chảy do loạn khuẩn.

Sinh lý bệnh

Sinh lý trao đổi nước bình thường ở ruột

Quá trình hấp thu nước ở ruột:

Bình thường, tại ruột, sự hấp thu nước được thực hiện qua 2 đường: chủ động và thụ động. Hấp thu thụ động tương đối ít về số lượng và xảy ra bởi cơ chế xuyên qua khe hở nhỏ giữa các tế bào biểu bì (liên bào ruột).

Hấp thu nước theo con đường chủ động xảy ra qua liên bào ruột, được điều hoà chủ yếu bởi sự chênh lệch áp lực thẩm thấu. áp lực này được tạo nên do sự vân chuyển các chất hoà tan, chủ yếu là Natri từ mặt bên này (phía lòng ruột) sang mặt bên kia liên bào ruột. Quá trình vân chuyển này cần tiêu tốn năng lượng và nguồn năng lượng này được tạo nên do ATP giải phóng ra sau khi bị phá vỡ bởi men ATPaza có ở bờ ngoài tế bào ruột.

Sự vân chuyển Natri từ lòng ruột vào tế bào thông qua cơ chế:

Natri trao đổi với H+.

Natri gắn với Clo.

Natri cùng gắn với glucose hoặc peptid.

Natri và glucose được hấp thu bằng cách s ử dụng một phân tử chuyên chở (carrier molecule) ở “bờ bàn chải” (brush -border) của liên bào ruột. Bờ bàn chải của liên bào ruột sử dụng glucose như một chất mang, để cho một ion Na vào cùng với một phân tử glucose. Và như vây, khi có mặt glucose với tỷ lệ thích hợp thì sự hấp thu Natri từ ruột vào máu tăng lên gấp 3 lần. Sự hấp thu này hoàn toàn không phụ thuộc vào AMP -vòng - một chất đã làm cho chiều vân chuyển nước theo cơ chế Natri gắn với Clo bị đảo ngược. Đây chính là cơ sở cho việc sử dụng dung dịch Oresol để điều trị bồi phụ nước và điện giải trong tiêu chảy.

Qua nghiên cứu ở Bangladesh, các tác giả đã xây dựng được thành phần thích hợp của gói Oresol pha trong 1 lít nước chín là:

Glucose:        20g.

NaCl:              3,5g.

NaHCO3:       2,5g.

KCl:                1,5g.

Quá trình bài tiết ở ruột:

Quá tình bài tiết ở ruột non xảy ra tại các tế bào vùng hẽm tuyến. Tại đây, Natri được bài tiết vào lòng ruột theo cơ chế Natri gắn với Clo (giống như cơ chế hấp thu Natri gắn với Clo, nhưng ngược chiều). Đồng thời nhiều chất nucleotide vòng trong tế bào như (AMP-c, GMP-c) có tác dụng kích thích làm tăng tính thấm của màng tế bào hẽm tuyến đối với Clo, gây tăng bài tiết Clo vào lòng ruột. Sự bài tiết Clo kèm theo Natri vào lòng ruột tại vùng hẽm tuyến đã kéo nước vào lòng ruột.

Bình thường, quá trình hấp thu nước tại các nhung mao liên bào ruột mạnh hơn nhiều lần so với quá trình bài tiết nước ở vùng hẽm tuyến. Do vây mà lượng nước rất nhiều (trênio lít/ngày) trong ruột non được hấp thu gần hết, chỉ còn khoảng 1 lít/ngày xuống đại tràng. Cũng cần lưu ý: Khả năng hấp thu nước của đại tràng là có giới hạn. Do vây, bất kỳ một thay đổi nào xảy ra ở hai quá trình trên: Tăng bà i tiết và/hoặc giảm hấp thu ở ruột non đều gây nên tình trạng quá tải nước cho đại tràng, hâu quả là đại tràng không thể hấp thu hết được nước, tạo nên tiêu chảy.

Người lớn khỏe mạnh:

Nước vào ruột non:

Từ ăn uống:  <  2lít.

Nước bọt, dịch dạ dày, ruột tiết ra, mật, tuỵ: khoảng 9 lít.

Nước được hấp thu ở ruột non 90%, vào khoảng: 9,9 lít.

Nước xuống ruột già (đại tràng): khoảng 1 lít.

Đại tràng chỉ có khả năng hấp thu khoảng: 0,8-0,9 lít.

Nước trong phân khoảng: 100 - 200ml.

Cơ chế ỉa chảy

Tiêu chảy do cơ chế xuất tiết:

Ví dụ: ở người lớn mạnh khoẻ: - Nước vào ruột non:

Những tác nhân gây bệnh tiêu chảy, không xâm nhập vào liên bào ruột như phảy khuẩn tả, Coli sinh độc tố ruột (ETEC), mà chỉ bám dính vào nhung mao liên bào ruột và sinh ra độc tố. Độc tố được gắn chặt không bị đẩy ra và cũng không bị trung hoà bởi dược chất nhờ có sự liên kết thường xuyên ở “bờ bàn chải”. Sự có mặt của độc tố đã kích thích men Adenylcyclase, men này tác động lên ATP làm sản sinh ra AMP-vòng. Sự gia tăng AMP-vòng trong tế bào gây ức chế và ngăn cản sự hấp thu Natri theo cơ chế gắn với Clo, làm tăng bài tiết Clo vào lòng ruột ở các tế bào hẽm tuyến. Sự gia tăng bài tiết Clo kèm

theo Natri tại vùng hẽm tuyến dẫn đến tình trạng tăng bài tiết nước vào lòng ruột. Hiên tượng rối loạn vận chuyển nước và điên giải này được duy trì thường xuyên ở những tế bào bị ảnh hưởng (bị độc tố gắn vào). Sự hổi phục phụ thuộc vào quá trình đổi mới tế bào, nghĩa là phụ thuộc vào quá trình bong, tróc của những tế bào trên và sự thay thế chúng bởi các tế bào bình thường được sản sinh từ vùng hẽm tuyến di chuyển lên. Nếu trẻ tiêu chảy được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là chất đạm thì quá trình đổi mới tế bào (tái tạo tế bào) được rút ngắn lại trong thời gian 4 -5 ngày.

Như vậy, ỉa phân toé nước là hậu quả của 2 quá trình xảy ra tại ruột non: Giảm hấp thu nước tại các liên bào và tăng bài tiết nước tại vùng hẽm tuyến do tác động của độc tố vi khuẩn. Với tiêu chảy do cơ chế xuất tiết, thì sự “cầm ỉa” hay “khỏi bệnh” không thể giải quyết được bằng thuốc, mà bằng chính sự tác động lên quá trình đổi mới tế bào ruột, nghĩa là bằng dinh dưỡng. Tuy nhiên, để làm được việc này, cần phải duy trì được sự sống của trẻ, nghĩa là không để trẻ bị ảnh hưởng đến tính mạng vì mất nước (bằng cách uống oresol sớm và đủ), để có thời gian cho trẻ ăn, có thời gian cho tế bào bị tổn thương bong ra và đủ điều kiện để tái tạo tế bào mới.

Điều cần lưu ý là sự gia tăng AMP-vòng trong tế bào gây ức chế và ngăn cản sự hấp thu Natri theo cơ chế gắn với Clo, nhưng không ức chế đối với cơ chế hấp thu Natri gắn với glucose.

Tiêu chảy xâm nhập:

Tác nhân gây bệnh xâm nhập vào trong liên bào ruột non (trong ỉa phân nước), ruột già (trong ỉa phân nhày, máu), sẽ nhân lên trong đó rổi phá huỷ tế bào, làm bong tế bào và gây nên phản ứng viêm. Những sản phẩm tạo ra do phá huỷ tế bào và do viêm được bài tiết vào trong lòng ruột, gây nên tiêu chảy.

Nhiều loại vi khuẩn gây tiêu chảy theo cơ chế xâm nhập như: trực trùng lỵ (Shigella), Coli xâm nhập (EIEC), thương hàn (Salmonella), lỵ amip ( Entamoeba hystolytica) ...

Các loại virus (Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus) cũng gây tiêu chảy theo cơ chế xâm nhập.

Một số tác nhân như Giardia lamblia, Cryptosporidium, tuy chỉ bám dính vào nhung mao liên bào, không xâm nhập vào trong tế bào, nhưng ỉa phân nước cũng do cơ chế xâm nhập, vì chúng làm teo các nhung mao của liên bào, do đó làm giảm khả năng hấp thu nước.

Hâu quả của tiêu chảy phân nước

Mất nước, mất natri:

Do giảm hấp thu và tăng bài tiết nước cùng với natri tại ruột, rồi tốn g ra ngoài trong tình trạng phân lỏng, đã dẫn đến mất nước và mất natri.

Ngay sau lần ỉa phân lỏng đầu tiên đã thực sự làm cho cơ thể mất nước (do vây, lời khuyên đối với các bà mẹ có con bị tiêu chảy là hãy cho trẻ uống dung dịch Oresol ngay sau lần ỉa phân lỏng đầu tiên). Tuy vây, triệu chứng mất nước trên lâm sàng chỉ bắt đầu xuất hiện khi mất đi 5% trọng lượng cơ thể. Nếu để bệnh nhi tiêu chảy mất tới 10% trọng lượng cơ thể thì sẽ xảy ra sốc do giảm khối lượng tuần hoàn, và mất trên 10% trọng lượng cơ thể thì khó có thể tránh khỏi tử vong.

Mất kali và bicarbonat:

Mất kali và bicarbonat là do chúng bị đào thải theo phân, từ đó dẫn đến giảm kali máu và toan hoá máu. Khi kali máu giảm sẽ dẫn đến giảm trương lưc cơ: nhẹ là liệt ruột cơ năng gây chướng bụng, nặng hơn sẽ gây nhược cơ toàn thân, loạn nhịp tim và có thể tử vong. Thông thường, khi mất bicarbonat, thân sẽ điều chỉnh và bù trừ được. Nhưng khi mất nước nặng, giảm khối lượng tuần hoàn thì lưu lượng máu đến thân giảm, do đó chức năng thân cũng bị suy giảm theo, không thể điều chỉnh được.

Do vây, cách đề phòng tử vong tốt nhất đối với trẻ bị tiêu chảy là không để trẻ mất nước nặng bằng cách bồi phụ nước và điện giải cho trẻ ngay từ khi bắt đầu ỉa chảy (nghĩa là trẻ ỉa và nôn ra bao nhiêu nước thì phải bù vào bấy nhiêu), bằng cách uống dung dịch Oresol.

Triệu chứng lâm sàng bệnh tiêu chảy

Triệu chứng tiêu hoá

Tiêu chảy:

Tiêu chảy (đi ngoài phân lỏng) là triệu chứng không thể thiếu được trong bệnh tiêu chảy. Tiêu chảy thường xảy ra đ ột ngột bởi dấu hiệu ỉa nhiều lần phân nhiều nước, có thể có lẫn nhày, máu và có mùi chua, tanh, nồng hoặc thối khẳn. Có trường hợp phân tự chảy ra do bị liệt cơ co thắt hâu môn.

Nôn:

Nôn thường xuất hiện sớm trước khi có triệu chứng ỉa lỏng từ vài g iờ đến vài chục giờ. Nôn có thể xảy ra liên tục hoặc chỉ nôn một vài lần trong ngày làm trẻ mất nước, mất H+ và Cl-. Trong trường hợp này, nguyên nhân gây bệnh thường do Rotavirus hoặc tụ cầu.

Cần xác định xem trẻ nôn bao nhiêu lần, số lượng chất nôn trong mỗi lần, tính chất và thành phần chất nôn (toàn nước, thức ăn, chất khác), vì số lượng dung dịch oresol cần bồi phụ cho trẻ phụ thuộc vào số lượng dịch mất đi do ỉa và nôn.

Biếng ăn:

Biếng ăn thường xuất hiện sớm ngay sau khi trẻ bị tiêu chảy: Trẻ t hường từ chối các thức ăn thông thường, chỉ thích uống nước. Cần khai thác xem chế độ ăn của trẻ ra sao, trẻ có được bú không? Gia đình đã cho trẻ uống thuốc gì, có cho trẻ uống oresol hoặc nước gì chưa?

Triệu chứng mất nước

Khi trẻ bị tiêu chảy cần phải tiến hành ngay việc đánh giá tình trạng mất nước bằng cách nhân định trên bệnh nhân:

Quan sát toàn trạng để đánh giá mức độ mất nước:

Trẻ tỉnh táo bình thường, khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng.

Trẻ kích thích, vât vã, quấy khóc là có biểu hiện mất nước.

Trẻ li bì, lờ đờ, mệt lả, hôn mê là mất nước nặng.

Xác định dấu hiệu khất nước để đánh giá mức độ mất nước:

Trước hết phải hỏi xem trẻ có đòi uống nước không?.

Hãy cho trẻ uống nước bằng cốc, chén, thìa và quan sát để đánh giá mức độ mất nước:

Uống bình thường: Trẻ có uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống, khi chưa có biểu hiên mất nước trên lâm sàng.

Uống một cách háo hức: khi uống trẻ thường nắm giữ lấy thìa, ghì cốc vào miệng hoặc khóc ngay khi ngừng cho uống và nhìn theo cốc nước đang bị lấy đi. Đây là một trong các dấu hiệu quan trọng nói lên tình trạng mất nước.

Không uống được hoặc uống kém: khi đưa thìa nước vào miệng, trẻ không uống hoặc uống yếu ớt, hổi lâu mới uống được một ít nước. Lúc này quan sát thường thấy trẻ li bì hoặc hôn mê. Đây là một trong những biểu hiện mất nước nặng.

Quan sất mắt của trẻ và nhân định:

Trong tiêu chảy, mắt của trẻ có thể:

Bình thường + Trũng + Rất trũng

Trên thực tế có những đứa trẻ đẻ ra mắt đã sâu (trũng). Do vây, để tránh nhầm lẫn, nên hỏi người nhà xem mắt của trẻ hiện giờ có gì khác so với lúc bình thường không? Với mục đích này, không nên đặt câu hỏi đóng: Mắt cháu có trũng không?

Quan sát xem mắt trẻ khô hay ướt. Khi trẻ khóc to, có thấy nước mắt chảy ra không? Nếu mắt khô, khóc không có nước mắt là trẻ có mất nước.

Quan sất và thẫm khấm môi, miệng, lưỡi:

Nhìn xem môi có khô không.

Dùng ngón tay sạch, khô sờ vào miệng, vào lưỡi của trẻ, rổi rút ra. Nếu thấy khô, không có nước bọt là có biểu hiện mất nước.

Xấc định đô chun giãn của da và đánh giá mức độ mất nước:

Tại bụng hoặc đùi, ta véo da thành nếp rồi bỏ ra, nếu thấy:

Nếp da véo mất nhanh: Chưa có biểu hiên mất nước trên lâm sàng.

Nếp da véo mất châm: Có mất nước.

Nếp da véo mất rất châm (trên 2 giây): Mất nước nặng.

Một số dấu hiệu khấc:

Mạch: Có thể rất nhanh yếu hoặc khó bắt, nếu mất nước nặng.

Thở: Trẻ thở nhanh, khi bị mất nước nặng, toan chuyển hoá. Khi trẻ có khó thở, cần phải hỏi xem trẻ có ho không để phân biệt với viêm phổi (vì viêm phổi cũng có thể kèm theo ỉa phân lỏng).

Đái ít, nước tiểu xẫm mầu là mất nước. Nếu không đái trong 6 giờ là mất nước nặng.

Thóp: Cần quan sát đối với trẻ còn thóp: Thóp sẽ lõm xuống (trũng), nếu trẻ có mất nước, rất trũng là mất nước nặng. Cũng nên hỏi người nhà về tình trạng thóp của trẻ lúc bình thường.

Cân để xác định trọng lượng của trẻ:

Cân trước và sau khi bồi phụ nước và điện giải để đánh giá số lượng dịch đã uống hoặc đã truyền.

Nếu có điều kiện cân ngay trước khi trẻ ỉa chảy và lúc chúng ta thăm khám cho trẻ, thì có thể xác định được lượng nước đã mất. Song, trên thực tế thì công việc này không có tính khả thi.

Xét nghiêm

Điện giải đồ: Xác định tình trạng rối loạn điện giải.

Công thức bạch cầu: Nếu có nhiễm khuẩn thì bạch cầu đa nhân trung tính tăng.

Soi phân: Tìm hồng cầu, bạch cầu, trứng kí sinh trùng, cặn dư.

Cấy phân: Khi điều trị không kết quả cần phải cấy phân để tìm vi khuẩn gây bệnh.

Có thể làm Hematocrit để đánh giá tình trạng cô đặc máu (mất nước).

Chăm sóc

Nhân định

Để có những chẩn đoán chăm sóc sát với bệnh nhi, người điều dưỡng cần hỏi, thăm khám kỹ và xác định tình trạng bệnh.

Hỏi:

Bệnh nhi bao nhiêu tuổi?

Cân nặng lúc đẻ?

Dinh dưỡng: Mẹ có đủ sữa không? Trẻ ăn sam lúc mấy tháng?

Thức ăn sam như thế nào? Dinh dưỡng trẻ trước khi bị ốm như: trẻ bú mẹ hay ăn nhân tạo, dinh dưỡng trong khi trẻ bị tiêu chảy ra sao? Trong khâu nuôi dưỡng có vấn đề gì cần phải điều chỉnh?

Trước khi bị tiêu chảy trẻ có ăn những loại thức ăn có thể bị ôi thiu, uống nước lã... không?

Trẻ tiêu chảy mấy lần/ngày? Phân lỏng hay lẫn nhầy máu?

Trẻ có khát nước không? Có sốt, nôn, co giật không?

Bệnh nhi có đi tiểu được không? Đã mấy g iờ chưa đi tiểu?

Ở nhà, ở trường học có nhiều trẻ bị tiêu chảy không?

Tập quán, phong tục địa phương: ăn gỏi cá, tiết canh, uống nước lã?

Kinh tế gia đình thế nào?

Quan sát và xác định:

Toàn trạng: Tỉnh táo, kích thích hay li bì.

Mắt: Mắt bình thường, trũng hay rất trũng. Cần chú ý hỏi người nhà: Mắt trẻ có gì khác so với lúc bình thường không?

Nước mắt: Quan sát khi trẻ khóc to có nước mắt không? Nếu không có nước mắt là bị mất nước.

Niêm mạc miệng lưỡi khô hay ướt, có hay không có nước bọ t. Nếu không có nước bọt là có dấu hiệu mất nước.

Khát nước: Trẻ không khát, khát hoặc không uống được.

Nếp véo da: Bình thường hay mất chậm.

Phân, chất nôn: số lượng, tính chất?

Bụng có chướng không?

Có co giật không?

Đo nhiệt độ: Sốt hay không sốt.

Đếm mạch: Mạch bình thường, nhanh, nảy rõ hay yếu.

Đếm nhịp thở: Trẻ thở nhanh? Có rối loạn nhịp thở không?

Đo huyết áp: Huyết áp của trẻ bình thường hay giảm.

Cân bệnh nhân? Xác định trọng lượng của trẻ có bình thường không?

Nếu trước khi bị tiêu chảy, trẻ đã được cân thì cần so sánh xem hiện tại trọng lượng của trẻ có bị giảm sút không? Nếu có thì sút bao nhiêu phần trăm. Nếu sút từ 5% trở lên là trẻ bị mất nước.

Đánh giá mức độ mất nước

Để đánh giá đúng mức độ mất nước, cần xác định 4 dấu hiệu sau:

Thần kinh:

Trẻ tỉnh táo bình thường;

Trẻ vật vã kích thích;

Trẻ li bì khó đánh thức.

Mắt trũng: Mắt có trũng hay không trũng?

Uống nước:

Trẻ uống bình thường;

Trẻ uống háo hức;

Trẻ không uống được.

Nếp véo da: Mất nhanh, mất chậm hay mất rất chậm?

Đánh giá mức độ mất nước theo Chương trình lồng ghép trẻ bệnh (IMCI):

Nhận định

Đánh giá

Chăm sóc

Có hai trong các dấu hiêu sau:

Li bì hoặc khó đánh thức

Mắt trũng

Không uống được hoặc uống kém

Nếp véo da mất rất chậm

Mất nước nặng

Chăm sóc theo phác đổ C

Có hai trong các dấu hiêu sau:

Vật vã kích thích

Mắt trũng

Uống nước háo hức

Nếp véo da mất chậm

Có mất nước

Chăm sóc theo phác đổ B

Không đủ các dấu hiệu để phân loại là có mất nước hoặc mất nước nặng

Không mất nước

Chăm sóc theo phác đổ A

Chẩn đoán chăm sóc

Đối với trẻ bị tiêu chảy, một số chẩn đoán chăm sóc thường gặp là:

Nguy cơ mất nước do tiêu chảy.

Trẻ ỉa phân lỏng nhiều lần do gia tăng tình trạng xuất tiết ở r uột.

Trẻ quấy khóc, kích thích vật vã do mất nước.

Trẻ lờ đờ do mất nước nặng

Sốt do nhiễm khuẩn.

Chướng bụng do thiếu hụt kali

Nôn nhiều do tăng co bóp dạ dày

Phân có máu do tổn thương ruột.

ỉa chảy kéo dài do chế độ ăn thiếu chất đạm.

Thiếu hụt dinh dưỡng do chế độ ăn kiêng khem quá mức

Mẹ thiếu hiểu biết về cách chăm sóc trẻ tiêu chảy.

Mẹ thiếu hiểu biết về cách đề phòng bệnh tiêu chảy.

Lập kế hoạch chăm sóc

Dựa vào các chẩn đoán chăm sóc, người điều dưỡng sẽ lập kế hoạch chăm só c thích hợp, dựa trên nguyên tắc:

Bù đủ nước và điên giải nhằm ngăn chặn mất nước nặng: Uống ngay dung dịch ORS khi trẻ ỉa phân lỏng, truyền dịch khi có mất nước nặng.

Cho trẻ ăn bình thường: Bú mẹ, ăn sam, ăn bình thường theo lứa tuổi.

Theo dõi thường xuyên nhằm:

Đánh giá đúng tình trạng mất nước.

Xử lý kịp thời, bổi phụ đủ nước, hạ sốt...

Điều chỉnh chế độ ăn cho thích hợp.

Nhắc nhở vê sinh.

Tiến triển bệnh (thuyên giảm, không cải thiên, nặng lên, ỉa máu...)

Chỉ cho kháng sinh khi ỉa phân máu, khi bị tả, thương hàn.

Giáo dục - tuyên truyền vê sinh phòng bệnh tiêu chảy.

Can thiệp điều dưỡng

Nguy cơ mất nước do tiêu chảy (tiêu chảy chưa cố dấu hiệu mất nước): Chẫm sóc theo phấc đổ A.

Chẫm sóc tại nhà.

Chẫm sóc theo 3 nguyên tắc:

Nguyên tắc 1: Đề phòng mất nước bằng cách:

Cho trẻ uống dung dịch Oresol ngay sau lần ỉa phân lỏng đầu tiên với liều lượng sau:

50 - 100 ml sau mỗi lần đi ỉa đối với trẻ dưới 2 tuổi.

100 - 200 ml sau mỗi lần đi ỉa đối với trẻ từ 2 - 5 tuổi.

Uống theo nhu cầu đối với trẻ trên 5 tuổi.

Nếu không có Oresol thì cho uống nước cháo muối hoặc nước muối đường hay nước dừa non với liều lượng như trên. Phải hướng dẫn cho bà mẹ cách pha các loại dung dịch nêu trên. Sau khi hướng dẫn phải đảm bảo là bà mẹ đã hiểu và chắc chắn sẽ pha đúng loại dung dịch cần thiết cho trẻ uống.

Hướng dẫn bà mẹ cách pha các loại dung dịch cho trẻ uống:

Pha ORS: Chỉ có một cách pha duy nhất là hoà cả gói oresol 1 lần với 1 lít nước nguội. Dung dịch đã pha chỉ được dùng trong 24 giờ.

Nấu nước cháo muối: 1 nắm gạo + 6 bát (200ml/bát) nước + 1 nhúm muối, đun sôi cho đến khi hạt gạo nở tung ra, chắt lấy 1000ml. Uống trong thời gian 6 giờ, không hết đổ đi, nấu nổi khác.

Nước muối đường: Hoà tan 1 thìa cafe gạt bằng muối (3,5g) + 8 thìa cafe gạt bằng đường (40g) + 1000ml nước sôi để nguội. Uống trong vòng 24 giờ.

Nước dừa non: Hoà tan 1 thìa cafe gạt bằng muối (3,5g) trong 1000ml nước dừa non. Uống trong 6 giờ, không hết đổ đi pha bình khác.

Nguyên tắc 2: Cho trẻ ăn đầy đủ các chất, nhất là chất đạm để thúc đẩy quá trình đổi mới tế bào ruột và phòng bệnh suy dinh dưỡng bằng cách:

Tiếp tục cho trẻ bú mẹ đối với trẻ đang bú mẹ.

Tiếp tục cho trẻ ăn những thức ăn thay thế sữa mẹ phù hợp với tháng tuổi đối với trẻ đang được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn nhân tạo.

Tiếp tục cho trẻ ăn sam đối với trẻ đang trong thời kỳ ăn sam.

Tiếp tục cho trẻ ăn bình thường đối với trẻ lớn.

Thức ăn của trẻ tiêu chảy phải nấu nhừ, dễ tiêu hoá, giàu chất dinh dưỡng, nhất là chất đạm, giàu Vitamin và muối khoáng.

Khuyến khích cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày.

Sau khi khỏi bệnh, cho trẻ ăn thêm mỗi ngày 1 bữa trong thời gian 2 - 4 tuần.

Nguyên tắc 3: Hướng dẫn bà mẹ biết khi nào phải đưa trẻ đến cơ sở y tế:

Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay, khi thấy có một trong các dấu hiệu sau:

Trẻ quấy khóc, kích thích vật vã.

Trẻ khát nhiều.

Trẻ nôn nhiều.

Trẻ ỉa phân có nhày máu.

Trẻ không đái được.

Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế khám lại nếu sau 5 ngày điều trị tại nhà không có tiến triển tốt.

Người điều dưỡng phải trực tiếp cho trẻ uống dung dịch ORS: Cho trẻ uống liên tục, uống ít một bằng thìa, cứ 1 - 2 phút uống 1 thìa. Trẻ lớn cho uống từng ngụm bằng cốc. Nếu bà mẹ có thể làm được công việc này thì người điều dưỡng phải hướng dẫn cho bà cách cho trẻ uống và chỉ để cho người mẹ làm khi chắc chắn là bà đã hiểu và tự làm được.

Uống hết lượng ORS đã qui định trong 4 giờ.

Nếu trẻ nôn thì dừng 5 - 10 phút, sau đó lại cho uống tiếp với tốc độ châm hơn.

Người điều dưỡng phải thường xuyên theo dõi giám sát việc bà mẹ cho trẻ uống. Phải kiểm tra, xác định và so sánh giữa lượng ORS mà trẻ thực sự uống được với việc cải thiện tình trạng mất nước.

Sau hoặc trong giai đoạn bù dịch, trẻ cần được hồi phục dinh dưỡng:

Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, nếu trẻ đang còn bú mẹ.

Ăn sam bình thường phù hợp với lứa tuổi.

Sau 4 giờ đánh giá lại mấc đô mất nước để chọn phkc đồ chẫm sóc thích hợp:

Nếu tình trạng mất nước không được cải thiện thì cho trẻ uống ORS với khối lượng và tốc độ như trên.

Nếu không còn dấu hiệu mất nước thì chăm sóc như phác đổ A.

Nếu trẻ li bì, không uống được thì chuyển sang chăm sóc theo phác đổ C: truyền dịch.

Trẻ li bì do mất nước nặng (Tiêu  chảy mất nước nặng).

Chăm sóc tại cơ sở y té có khả năng truyền tĩnh mạch

Dung dịch truyền:

Ringer lactat: Là dung dịch thích hợp nhất.

Nếu không có Ringer lactat thì có thể thay thế bằng dung dịch muối sinh lý NaCl 9 % o.

Xác định tốc độ truyền:

Cần phải tính toán truyền bao nhiêu giọt/phút để đảm bảo đúng khối lượng và tốc độ nêu trên. Cứ 20 giọt dung dịch nêu trên thì bằng 1ml.

Ví dụ: Trẻ 10 tháng, nặng 8 kg:

Số lượng dịch cần truyền trong 1 giờ đầu là: 8 x 30 = 240 ml;

Qui đổi 240 ml ra giọt: 240ml x 20 giọt/ml = 4800 giọt
Tốc độ cần truyền trong giờ đầu là: 4800giọt : 60 phút = 80 giọt/phút

Nếu không truyền được tĩnh mạch thì nhỏ giọt dạ dày dung dịch ORS với liều 20 ml/ kg/giờ và chuyển đến nơi có điều kiện truyền tĩnh mạch .

Theo dõi đánh giá tình trạng bệnh nhân:

Trong giai đoạn mất nước nặng: phải đánh giá thường xuyên.

Khi tình trạng bệnh nhân đã ổn định: ít nhất 1 giờ phải đánh giá 1 lần.

Trong thời gian truyền dịch, nếu trẻ uống được thì cho uống ORS với tốc độ châm (5 ml/ kg/ 1giờ).

Sau khi truyền đủ lượng dịch theo y lệnh, cần đánh giá lại để chọn biện pháp chăm sóc tiếp:

Truyền lại, nếu tình trạng bệnh nhân không được cải thiện.

Nếu trẻ tỉnh táo, uống nước háo hức thì chuyển sang chăm sóc theo phác đổ B.

Nếu trẻ tỉnh táo bình thường, uống nước bình thường thì chuyển sang chăm sóc theo phác đổ A.

Sau giai đoạn bù dịch, cần phải nuôi dưỡng bệnh nhân tốt

Cho trẻ ăn đúng với chế độ ăn theo lứa tuổi, cần chú trọng đến chất lượng bữa ăn: Đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là chất đạm, tăng cường mỗi ngày ăn thêm 1 - 2 bữa, thức ăn dễ tiêu.

Dùng kháng sinh:

Chỉ cho bệnh nhân dùng kháng sinh khi:

Phân có máu.

Bênh tả.

Thương hàn.

Ỉa phân có máu, nguyên nhân thường do vi khuẩn là E. co li gây chảy máu (EHEC) hay lỵ trực trùng, trong trường hợp thày thuốc thường chỉ định dùng Trimazol. Trong trường hợp do lỵ amíp thì có chỉ định dùng Metronidazol.

Bụng chướng do thiếu hụt Kali máu:

Chướng bụng thường xảy ra khi bệnh nhân tiêu chảy n hiều, không được bổi phụ dung dịch oresol kịp thời, dẫn đến liêt ruột do thiếu Kali máu. Do vây, cần phải bổi phụ ngay Kali để ngăn chặn tình trạng rối loạn nhịp tim, ngừng tim do thiếu hụt trầm trọng ion này, bằng cách:

Cho trẻ uống Oresol theo tình trạng mất nước.

Uống Kali clorid 1 - 2g/ngày: hoà với nước để có dung dịch không quá 10%, cho uống 1g/ lần.

Trẻ nôn nhiều do tăng co bóp dạ dày:

Nôn là dấu hiệu xảy ra sớm, do dạ dày bị kích thích bởi các quá trình bệnh lý tại ruột. Trong trường hợp này, vẫn phải cho bệnh nhân uống dung dịch Oresol để đề phòng mất nước, nhưng cứ sau mỗi lần nôn phải ngừng 10 phút để dạ dày không bị kích thích, rổi sau đó lại tiếp tục cho uống ít một, từ từ. Chỉ chuyển sang truyền tĩnh mạch, khi trẻ nôn nhiều, dù uống ít một vẫn nôn và làm cho tình trạng bệnh nhân mỗi lúc một xấu đi.

Thực hiên kế hoạch chăm sóc

Nhanh chóng tiến hành bù nước và điên giải cho bệnh nhân:

Hướng dẫn người nhà bệnh nhân cách cho uống dung dịch Oresol: uống đúng (uống Oresol trong 4 giờ đầu hay sau mỗi lần đi ngoài), uống đủ theo tình trạng bệnh nhân.

Truyền dich Ringer lactat hay Natri clorid 9% o. Phải luôn ở bên cạnh bệnh nhân để theo dõi:

Tốc độ truyền.

Sự tiếp nhân dịch của bệnh nhi.

Theo dõi những tai biến có thể xảy ra.

Nếu bệnh nhi uống được thì cho uống thêm dung dịch Oresol với liều 5ml/kg/giờ để cung cấp thêm nước, Kali và kiềm.

Nếu không truyền tĩnh mạch được thì nhỏ giọt dạ dày bằng dung dịch Oresol với liều 20ml/kg/giờ, đổng thời tìm phương tiên chuyển bệnh nhâ n đến tuyến điều trị có thể truyền tĩnh mạch được.

Đếm mạch, nhịp thở, đo huyết áp 1giờ x 1 lần hoặc thường xuyên hơn phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhi.

Sau 6 giờ hoặc 3 giờ đánh giá lại tình trạng mất nước của bệnh nhi để chọn phác đổ thích hợp.

Cần cho bệnh nhân ăn sau khi truyền dịch xong.

Sau mỗi khi đánh giá bệnh nhân, cần thông báo với thày thuốc về tình trạng mất nước của bệnh nhân (không cải thiên, có cải thiên hay nặng thêm) để chọn phác đổ thích hợp.

Cho bệnh nhi ăn chế độ ăn thích hợp nhằm cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho bệnh nhân:

Tiếp tục cho bú mẹ.

Ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu hoá, giàu chất dinh dưỡng, vitamin, nhất là phải cung cấp đầy đủ chất đạm như thịt, cá, sữa nhằm xúc tiến quá trình đổi mới tế bào ruột.

Ăn nhiều bữa trong ngày.

Thường xuyên theo dõi cân nặng cho bệnh nhi.

Nếu thày thuốc cho kháng sinh, thực hiên đúng y lênh:

Tetraxyclin (trong bệnh tả, trẻ trên 8 tuổi): uống vào lúc no.

Ampicilin: uống vào lúc đói trước bữa ăn 1 giờ.

Metronidazol: uống vào lúc no.

Nếu bệnh nhân sốt thì hạ nhiệt bằng cách:

Nới rộng quần áo tã lót.

Nếu chân, tay lạnh thì phải đi tất.

Chườm mát các vùng trán, bẹn, nách; không được chườm đá!

Thuốc hạ nhiêt: Paraxetamol 15mg/kg/lần.

Giáo dục sức khoẻ: Hướng dẫn bà mẹ biên pháp vê sinh phòng bệnh:

Tập để tạo thành thói thói quen: Rửa tay trước khi ăn, trước khi chuẩn bị bữa ăn, và sau khi đi vê sinh, đổ bô, quét nhà...

Gia đình phải có hố xí hợp vê sinh và xử lý phân tốt.

Xoá bỏ tập quán chưa tốt: ăn gỏi cá, tiết canh hoặc kiêng khem quá mức, cai sữa khi trẻ bị tiêu chảy...

Không sử dụng kháng sinh bừa bãi.

Cho trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch.

Đánh giá

Trong và sau khi thực hiên kế hoạch chăm sóc, người điều dưỡng thường xuyên theo dõi bệnh nhân để biết được kết quả điều trị, chăm sóc, đổng thời để đánh giá kịp thời tình trạng mất nước của người bệnh. Những vấn đề cần đánh giá trong quá trình chăm sóc bệnh nhân tiêu chảy là:

Người nhà đã cho trẻ uống được bao nhiêu cốc (bát...) dung dịch ORS? Uống đã đủ và đúng theo chỉ dẫn chưa? Nếu thiếu thì phải tiếp tục cho uống. Trên thực tế, có những gia đình đã bí mật đổ dung dịch oresol đi, không cho trẻ uống, nhưng họ vẫn trả lời là có cho trẻ uống và uống hết lượng oresol mà thầy thuốc cấp. Khi đánh giá, chúng ta phải xác định chính xác lượng nước mà trẻ thực sự đã uống vào, lượng nước mà trẻ ỉa và nôn ra và so sánh với tình trạng hiên tại của bệnh nhân. Vấn đề ở đây là: Trẻ t hực sự đã uống được bao nhiêu dịch? Lượng dịch uống vào đã đủ chưa? chứ không phải là người nhà bệnh nhân nói trẻ đã uống được bằng này, bằng kia. Để người nhà hiểu về tầm quan trọng của viêc cho trẻ uống oresol, nhiều khi người điều dưỡng phải ngổi hàng giờ để tự tay mình cho trẻ uống từng thìa một.

Tình trạng mất nước của trẻ có được cải thiên không?

Khi tình trạng mất nước đã được cải thiên thì xử trí theo mức độ mất nước hiên tại.

Khi tình trạng mất nước không cải thiên thì tiếp tục xử trí theo phác đổ cũ.

Khi tình trạng mất nước nặng lên thì phải xử trí theo mức độ mất nước hiên tại.

Trong suốt quá trình chăm sóc, bệnh nhi phải được theo dõi sát:

Số lượng dung dịch Oresol uống được sau mỗi lần đi ỉa hoặc sau 4 giờ.

Số lần đi ỉa, số lượng, tính chất, màu sắc phân; số lần đái và số lượng nước tiểu; đếm mạch, nhịp thở, nhiệt độ, đo huyết áp kịp thời để báo cáo thày thuốc.

Sự tiếp nhân dịch truyền (nếu có truyền dịch) của bệnh nhi.

Lên kế hoạch thực hiện giáo dục tuyên truyền vệ sinh phòn g bệnh cho người nuôi trẻ:

Tiếp tục cho trẻ bú mẹ.

Ăn sam đúng.

Vệ sinh cá nhân.

Vệ sinh môi trường.

Vệ sinh ăn uống.

Tiêm chủng đúng lịch.

Phòng bệnh

Song song với công tác điều trị và chăm sóc tốt cho trẻ em bị tiêu chảy là côn g tác giáo dục sức khoẻ, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh.

Nâng cao sức đề kháng cho trẻ

Nuôi con bằng sữa mẹ.

ăn sam đúng theo ô vuông thức ăn (tô màu bát bột).

Thực hiện tiêm phòng đầy đủ 7 bệnh thường gặp, tiêm đúng lịch.

Giữ ấm cho trẻ.

Vê sinh, an toàn thực phẩm.

Sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước giếng khoan, nước mưa...) ăn chín, uống sôi.

Thức ăn của trẻ phải tươi, đảm bảo vệ sinh, bảo quản chu đáo.

Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường:

Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi đổ bô, quét nhà...

Tất cả mọi người trong gia đình đều sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý phân tốt.

Quản lý tốt phân, nước thải, rác.


Bài xem nhiều nhất

Chăm sóc trẻ bị bệnh tiêu chảy cấp

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi.

Chăm sóc trẻ bị viêm phổi nặng

Vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào phổi gây tổn thương viêm các phế quản nhỏ, túi phổi (phế nang) và tổ chức xung quanh phế nang. Do phổi bị tổn thương gây tăng tiết đờm rãi, phù nề niêm mạc phế quản gây bít tắc đường thở dẫn đến rối loạn thông khí và khuyếch tán khí, cuối cùng là suy hô hấp

Sốt cao gây co giật ở trẻ em

Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng về nguyên nhân co giật do sốt. Việc xác định tính trội hay lặn của nhiễm sắc thể và nhiều cơ chế di truyền khác. Ở những gia đình có người co giật do sốt thì nguy cơ co giật ở trẻ tăng gấp 2- 3 lần.

Chẩn đoán và xử trí co giật ở trẻ em

Thống kê qua điều tra cơ bản ở một xã miền Bắc và một xã miền Nam Việt Nam của Bộ môn Thần Kinh Đại Học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ trẻ bị co giật nhiều lần và được xác định là động kinh là 2/1000.

Cách dùng thuốc cho trẻ em

Không được dùng hoặc phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ những loại thuốc gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cơ thể, vì trẻ em là những cơ thể đang phát triển

Bệnh học HIV AIDS ở trẻ em

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh do HIV là các biểu hiện của nhiễm trùng cơ hội và các bệnh u. Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi ở nhiều cơ quan, dễ nhầm với nhiều bệnh.

Bệnh học đau bụng ở trẻ em

Siêu âm bụng: Có thể phát hiện dấu hiệu viêm hạch mạc treo, búi lồng, hay hình ảnh ruột thừa viêm hay dịch tự do hay khu trú trong ổ bụng hay hình ảnh giun ở đường mật, đường tụy..

Chăm sóc trẻ em thiếu máu do thiếu sắt

Cần phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt từ sớm, ngay từ khi trẻ ở thời kỳ bào thai, lưu ý tới những trẻ có nguy cơ như các trẻ đẻ non, sinh đôi, trẻ dưới 3 tuổi, trẻ bị thiếu sữa mẹ và các bà mẹ có thai

Gãy xương ở trẻ em

Xương trẻ em liền nhanh do cốt mạc liên tục, sự cấp máu phong phú, trẻ càng nhỏ liền xương càng sớm (sơ sinh 2 - 3 tuần, 7 - 10 tuổi là 6 tuần, trên 10 tuổi là 8 - 10 tuần).

Viêm tai giữa cấp ở trẻ em

Trong viêm tai giữa cấp ở trẻ em, viêm tai giữa tiết dịch kéo dài nếu không điều trị đúng sẽ gây các di chứng nặng nề trên tai giữa và làm suy giảm chức năng nghe.

Bệnh học bạch hầu

Người là ổ chứa của vi khuẩn bạch hầu. Bệnh lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang trùng bởi các chất tiết đường hô hấp hoặc qua các chất dịch ở sang thương ngoài da có chứa vi khuẩn bạch hầu.

Nhiễm trùng rốn sơ sinh

Theo tổ chức y tế thế giới, có tới 47% trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng huyết có ngõ vào từ nhiễm trùng rốn và khoảng 21% các trường hợp trẻ sơ sinh đến khám vì lý do khác có kèm theo nhiễm trùng rốn.

Bệnh học ho gà

Viêm phổi: Là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20%, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis nhưng thường gặp nhất là do vi khuẩn thứ phát xâm nhập vào.

Suy dinh dưỡng trẻ em

Trong đa số trường hợp, suy dinh dưỡng xảy ra do sự kết hợp của cả 2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào vừa tăng năng lượng tiêu hao (Ví dụ trẻ bệnh nhưng mẹ lại cho ăn kiêng).

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một chiến lược hay một giải pháp nhấn mạnh tới sự phát triển phổ câp các dịch vụ y tế. Các dịch vụ này người dân chấp nhân được, cố gắng chi trả được, có thể tiếp cân được, dựa vào cộng đổng và coi trọng việc nâng cao, duy trì sức khoẻ cho nhân dân.

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không những có tỷ lê mắc bệnh cao mà còn bị mắc nhiều lần trong năm, trung bình 1 trẻ trong 1 năm có thể bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3 -5 lần, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng của trẻ, đổng thời làm giảm ngày công lao động của người mẹ

Co giật ở trẻ em

Co giật là tình trạng rối loạn tạm thời về ý thức, vận động, cảm giác, thần kinh tự động do sự phóng điện đột ngột quá mức nhất thời của một số neuron thần kinh.

Chăm sóc trẻ bị bệnh còi xương

Do xương loãng, mềm và lại phải tải gần như toàn bộ trọng lượng cơ thể cho nên hai chân của trẻ còi xương sẽ bị cong như hình chữ “O”; cơ yếu nên khi đứng chân thường dựa đầu gối vào nhau tạo nên hình chữ “X”.

Bệnh lỵ trực trùng ở trẻ em

Hội chứng lỵ: Đau bụng liên tục và dội lên từng cơn kèm theo bệnh nhi mót đi ngoài, mót rặn và ỉa phân có lẫn nhầy máu hoặc lờ lờ máu cá, 10 - 30 lần/ngày.

Viêm màng não mủ ở trẻ em

Viêm màng não mủ là tình trạng nhiễm khuẩn màng não do vi khuẩn gây nên. Ba loại vi khuẩn gây bệnh chính là: Hemophilus Influenza, não mô cầu và phế cầu.

Đặc điểm hệ hô hấp trẻ em

Các xoang hàm đến 2 tuổi mới phát triển, xoang sàng đã xuất hiên từ khi mới sinh nhưng tế bào chưa biệt hoá đầy đủ, vì vây trẻ nhỏ ít khi bị viêm xoang.

Các thời kỳ phát triển của trẻ em

Sự hình thành và phát triển thai nhi hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ (thể chất, tinh thần, xã hội và bệnh tật) của người mẹ.

Sử dụng thuốc trong nhi khoa

Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển, sử dụng thuốc cho trẻ em cần phải hiểu rõ tính chất dược lý của thuốc và đặc điểm cơ thể của trẻ.

Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng

Da khô, trên da có thể xuất hiên các mảng sắc tố ở bẹn, đùi: lúc đầu là những chấm đỏ rải rác, lan to dần rồi tụ lại thành những đám màu nâu sẫm, sau vài ngày bong ra để lại lớp da non rỉ nước, rất dễ nhiễm trùng.

Bệnh học bệnh sởi

Hàng năm toàn thế giới có khoảng 50 triệu trẻ bị sởi, trong đó ước tính khoảng 722.000 trẻ < 5 tuổi tử vong do các biến chứng từ sởi và 40% tử vong do suy dinh dưỡng. Bệnh thường xảy ra ở các nước châu Phi và Đông Nam Á.

Xem theo danh mục