Sự phát triển tâm thần và vận động của trẻ em


Ngày: 4 - 11 - 2014

Trẻ sơ sinh chỉ có những cử động tự phát, không ý thức. Do vây các động tác này thường xuất hiện đột ngột, không có sự phối hợp và đôi khi xảy ra hàng loạt các động tác vu vơ.

Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, về tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh tât. Do vây, việc đánh giá sức khoẻ trẻ em không chỉ dựa vào sự phất triển về thể chất mà còn phải xem xét đến sự phất triển về tấm thần và vận động của trẻ. Quá trình phát triển tâm thần - vân động của trẻ em diễn biến song song với sự trưởng thành của hệ thần kinh, đặc biệt là sự hoàn thiện và phát triển của vỏ não, của các giác quan và của hệ cơ- xương - khớp. Ngoài ra, các yếu tố như môi trường sống, sự phát triển xã hội, đặc biệt là sự giáo dục toàn diện về văn, thể, mỹ cũng là những yếu tố không kém phần quan trọng giúp cho trẻ phát triển tốt về tâm thần và vân động.

Để đánh giá sự phát triển tâm thần và vân động của trẻ em, có thể dựa vào việc theo dõi các khía cạnh sau:

Sự hiểu biết của trẻ (Trẻ biết những gì?)

Sự phát triển về vân động: Các động tác vân động và sự kết hợp khéo léo các động tác đó (Trẻ biết làm gì? Và làm như thế nào).

Sự phát triển về các giác quan, trong đó trọng tâm là nghe và nhìn.

Sự phát triển về lời nói (Khả năng nói của trẻ đến đâu?).

Sự ứng xử và giao tiếp với môi trường xung quanh.

Phát triển về tâm thần và vân động của trẻ em

Trẻ sơ sinh

Trẻ sơ sinh ngủ nhiều (ngủ tới 22 - 23 giờ/ngày) và đôi khi trẻ cười trong khi ngủ.

Năm giác quan của trẻ sơ sinh đã hoạt động:

Trẻ nghe được tiếng động to, tiếng nói to của mọi người.

Trẻ không thích uống chất đắng, trẻ thích uống chất ngọt.

Trẻ nhân biết được mùi sữa mẹ, qua đó trẻ biết tìm vú mẹ để bú mỗi khi được bế.

Trẻ biết nhìn đèn sáng không di động.

Trẻ biết đau khi tiêm, véo.

Trẻ sơ sinh chỉ có những cử động tự phát, không ý thức. Do vây các động tác này thường xuất hiện đột ngột, không có sự phối hợp và đôi khi xảy ra hàng loạt các động tác vu vơ.

Ví dụ: Một trẻ sơ sinh nằm ngửa thường co 2 tay, bàn tay nắm chặt, hai chân cùng co hoặc một chân co một chân duỗi; nhiều khi chân, tay có những động tác vu vơ.

Trẻ sơ sinh có những phản xạ tự nhiên:

Phản xạ bú, phản xạ nuốt.

Phản xạ Robinson (khi đưa một vât chạm vào lòng bàn tay thì trẻ nắm rất chắc).

Phản xạ vòi: khi chạm vào má gần miệng ở bên nào thì môi của trẻ đưa ra hướng về bên đó như để ngâm bú.

Phản xạ bắt chộp Moro: khi vỗ vào thành giường nơi trẻ nằm, trẻ giât mình, hai tay giang ra rồi ôm choàng vào thân (hình 4).

Trẻ 2 tháng tuổi

Thời gian ngủ của trẻ giảm dần.

Lúc thức trẻ biết chơi, nhìn được các vật sáng di động trước mắt.

Trẻ biết hóng chuyên.

Trẻ mỉm cười và dẫy dụa là thể hiên sự vui thích.

Đặt nằm sấp, trẻ có thể ngẩng đầu lên trong chốc lát.

Trẻ 3 tháng tuổi

Thời gian thức và chơi tăng dần.

Trẻ có thể nhìn theo một vật di động.

Có thể chăm chú nhìn một vật nắm trong tay.

Trẻ có thể nắm lấy những vật người lớn đưa và cho vào mồm, mặc dù chưa tự điều khiển được một cách mau lẹ.

Trẻ lẫy được từ tư thế ngửa sang nghiêng.

Ở tư thế nằm sấp trẻ có thể nhấc cằm khỏi mặt giường khá lâu.

Trẻ 4 tháng tuổi

Ham thích môi trường xung quanh.

Trẻ thích cười đùa với mọi người.

Có thể vận động tự ý như cầm và kéo đồ chơi.

Thích đạp, thích vùng vẫy chân tay.

Lẫy được từ ngửa sang sấp.

Nằm sấp trẻ nâng đầu được lâu hơn.

Giữ cho trẻ ngồi, đầu của trẻ không bị rủ x uống, không lắc lư.

Trẻ 5 tháng tuổi

Trẻ có thể quay mặt về phía có tiếng động.

Biết đưa tay ra nhận đồ chơi.

Ngồi được khi có người đỡ.

Có thể lẫy được từ sấp sang ngửa.

Có thể phát âm được vài phụ âm.

Trẻ 6 tháng tuổi

Trẻ biết phân biệt mẹ và người lạ.

Trẻ ngồi vững và trườn người ra xung quanh để lấy đổ chơi.

Biết chộp lấy đồ chơi, cầm lâu và chuyển từ tay này sang tay khác.

Biết nhặt đồ chơi có kích thước nhỏ bằng cả 5 ngón tay.

Trẻ bước đi khi được xóc nách.

Bập bẹ được hai âm kép: bà bà, măm măm...

Trẻ 7- 9 tháng tuổi

Có cảm xúc vui mừng hay sợ hãi.

Biết vẫy tay chào, hoan hô.

Biết bò, tự vịn vào thành giường để đứng lên.

Nhặt được vật nhỏ bằng 2 ngón tay (ngón cái và ngón trỏ).

Biết đập các vật vào nhau để tạo ra tiếng động, do vậy trẻ rất thích các đồ vật phát ra tiếng kêu như chuông, quả lắc vv...

Biết bỏ vật này lấy vật khác.

Biết phát âm rõ từng từ, trong số vài từ: bà, mẹ, đi, cơm...

Trẻ 10 - 12 tháng

Hiểu được lời nói đơn giản.

Trẻ nhắc lại được những âm người lớn dạy.

Biết chỉ tay vào những vật mình ưa thích.

Thích đập đồ chơi vào bàn, quẳng xuống đất, ném ra xa mình.

Sử dụng các ngón tay dễ dàng hơn.

Trẻ tự ngồi xuống, đứng lên và đi được vài bước (khi được 12 tháng).

Trẻ phát âm được 2 âm rõ rệt (bà ơi, mẹ đâu, đi chơi...),

Trẻ 18 tháng tuổi

Biết đòi đi tiểu, đi ỉa.

Chỉ được các bộ phận của cơ thể như mắt, mũi, mồm, tai, đầu, tay, chân, ngực, bụng, rốn vv...

Biết xếp đồ chơi, biết lật ngửa cái chén để lấy hòn bi ở bên trong, nếu được nhìn thấy người lớn lấy chén úp lên hòn bi.

Trẻ đi nhanh, đi lên được cầu thang nếu có người dắt tay.

Biết tự cầm bát cơm và xúc ăn bằng thìa.

Nói được các câu ngắn.

Trẻ 24 tháng tuổi

Thích xếp đồ chơi thành hàng dài.

Tự mặc được quần áo, rửa mặt nhưng còn vụng về.

Tự lên xuống cầu thang, nhảy được 1 chân.

Vẽ được vòng tròn, đường thẳng.

Nói được câu dài, hát được bài hát ngắn.

Trẻ 2 - 3 tuổi

Tự phục vụ được các việc đơn giản: cởi bỏ/mặc quần áo, xúc cơm ă n...

Học thuộc bài hát ngắn.

Hay đặt câu hỏi.

Thích sống tập thể.

Chân tay bớt vụng về, các động tác khéo léo hơn.

Thích leo trèo.

Trẻ thích múa hát.

Trẻ 4 - 6 tuổi

Tinh thần phát triển nhanh:

Trẻ thích tìm hiểu môi trường xung quanh , thích chơi một mình.

Tiếng nói phát triển mạnh: trẻ hát được bài hát dài, thuộc nhiều bài thơ ngắn.

Biết học chữ, học vẽ, viết được.

6 tuổi trẻ bắt đầu đi học.

Vân động khéo léo, nhanh nhẹn, mềm dẻo: múa, đi thăng bằng, leo trèo, chạy, nhảy ...

Trẻ 7 - 15 tuổi

Tiếp thu giáo dục tốt.

Có khả năng tưởng tượng và sáng tạo.

Biết hoà mình trong cộng đổng xã hội.

Vân động khéo léo: múa, nhảy, khâu vá, thêu, đan len vv...

Phát triển nhân cách giới tính rõ rệt.

Đánh giá sự phát triển của trẻ em bằng test Denver

Test Denver (Denver Developmental Screening test) hay còn gọi là test sàng lọc được dùng để đánh giá sự phát triển của trẻ trước tuổi đi học (trước 6 tuổi). Mục đích của test này là phát hiện sớm các trạng thái châm phát triển ở trẻ nhỏ bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn về sự phát triển bình thường của trẻ em theo tháng tuổi và được sắp xếp một cách hệ thống theo từng lĩnh vực để dễ thực hiện việc nhân định và đánh giá.

Nội dung của test Denver

Nội dung của test Denver bao gổm 105 mục thuộc 4 lĩnh vực cần đánh giá là:

Vân động thô sơ: Bao gổm 31 mục nhằm phát hiện xem trẻ có biết ngổi, biết đi, biết nhảy... theo đúng tuổi không?

Ví dụ: ngẩng đầu, lẫy, chập chững, đá bóng...

Vân động tinh tế: Bao gổm 30 mục giúp ta nhân địn h được khả năng nhìn, sử dụng bàn tay nhặt đổ vât và khả năng vẽ của trẻ.

Ví dụ: nắm quả lắc, nhặt quả nho, vẽ nguệch ngoạc, xếp các khối mầu...

Ngôn ngữ: Với 21 mục kiểm tra ngôn ngữ, chúng ta có thể đánh giá được khả năng nghe, nói và thực hành mệnh l ệnh của trẻ.

Ví dụ: phản ứng nghe chuông, cười, nói bâp bẹ, gọi mẹ, chỉ các bộ phân trên cơ thể trẻ, nhân biết màu sắc.

Thích ứng cá nhân - xã hội: 23 mục được sử dụng để nhân biết khả năng tiếp cân của trẻ với mọi người xung quanh và cách thức tự chăm s óc bản thân.

Ví dụ: biết chơi trò ú tim, biết vẫy tay chào, biết xúc cơm ăn, mặc quần áo, rửa tay, chơi với trẻ khác...

Các dụng cụ cần thiết để tiến hành đánh giá

Một túm len màu đỏ.

Một ít nho khô.

1 quả lúc lắc có cán nhỏ.

8 khối vuông bằng gỗ/nhựa có cạnh 2,5cm với 4 màu khác nhau (đỏ, vàng, xanh lục, xanh lá cây), mỗi màu có 2 khối.

1 lọ nhỏ bằng thuỷ tinh có đường kính miệng lọ bằng 1,5cm.

1 chuông nhỏ.

1 quả bóng quần vợt.

1 bút chì.

1 phiếu kiểm tra đã in sẩn các tiêu chuẩn cần tiến hành đánh giá theo tháng tuổi.

Bảng đánh giá

Lứa tuổi

Vân động thô sơ

Vân động tinh tế

Ngôn ngữ

Thích ứng cá nhân - xã hội

1 tháng

- Giơ tay lên nhẹ nhàng khi nằm sấp

- Nhìn ngươi mẹ

- Nhìn đèn sáng không di động

- Cười khi ngủ

- Quan sát vât trước mặt

2-3 tháng

Giữ vững được cổ

Nằm sấp ngẩng đầu chốc lát

- Đưa mắt nhìn mẹ

- Mỉm cười

- Nhìn vât sáng di động

- Nhìn vât di động

- Cười khi thức

- Hóng chuyên

- Cười đáp lại

4-5 tháng

- Ngồi phải giữ

- Nắm chặt tự phát

- Cười khanh khách

- Biết đầu vú

- Lắc lư khi cho ăn

6-8 tháng

Ngồi vững một mình

Bò lân lê

- Chuyển vât từ tay này sang tay kia

- Bắt chước giọng

- Cho tay vào miệng

- Chơi trò chơi đơn giản

- Biết bố mẹ

Biết lạ quen

8-10 tháng

- Đứng vịn

- Vỗ tay

- Kết hợp từ và hành động (măm măm)

10-12 tháng

- Đi có người dắt

- Nhặt đồ vât bằng 2 ngón

- Nói từ đầu tiên

12-18 tháng

- Đi một mình

- Sử dụng các ngón tay dễ dàng

- Nói được 3-50 từ

- Sử dụng được chén

- Tâp dùng thìa

18-24 tháng

- Bắt đầu chạy

- Xếp được vât này lên vât kia

- Biết bbộ phân của cơ thể

- Lấy được đồ vât khi sai khiến

- Nói lóng

- Nói được câu 2 từ

- Biết giao tiếp với người mình muốn

- Bắt chước làm

25-30 tháng

Ném bóng

Chạy

- Bắt chước tô đường kẻ dọc

- Nói được câu 3 - 4 từ

- Có 50-300 từ

- Biết đòi đi đái, ỉa

- Chơi tự lâp

- Biết cởi áo

- Biết mặc áo

30-36 tháng

- Leo lên, xuống thang một mình

- Bắt chước tô đường kẻ ngang

- Xếp được 6 khối lên nhau

3-4 tuổi

- Đứng 1 chân

- Đi xe 3 bánh

- Ném

chuyền bóng trên tay

- Vẽ vòng tròn

- Vẽ hình vuông

- Sử dụng kéo

- Nói được giới từ

- Nói được đại từ

- Nói được số nhiều

- Tự đến nhà vệ sinh

- Biết rửa mặt, lau mặt

- Chơi tâp thể

- Chuyển tay cầm

4-5 tuổi

- Ném bóng chính xác

 

- Vẽ người với một vài bộ phân

- Vẽ tam giác

- Tô nét chữ

- Đếm được

- Biết được màu sắc

- Tự mặc quần áo

- Giúp việc vặt

- Hoạt động tâp thể

5-6 tuổi

- Chạy tốt.

- Leo, trèo tốt

- Vẽ vòng tròn

- Bắt đầu đi học

- Tiếp xúc với bạn bè, nhà trường

- Chia được động từ quá khứ


Bài xem nhiều nhất

Chăm sóc trẻ bị bệnh tiêu chảy cấp

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi.

Chăm sóc trẻ bị viêm phổi nặng

Vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào phổi gây tổn thương viêm các phế quản nhỏ, túi phổi (phế nang) và tổ chức xung quanh phế nang. Do phổi bị tổn thương gây tăng tiết đờm rãi, phù nề niêm mạc phế quản gây bít tắc đường thở dẫn đến rối loạn thông khí và khuyếch tán khí, cuối cùng là suy hô hấp

Sốt cao gây co giật ở trẻ em

Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng về nguyên nhân co giật do sốt. Việc xác định tính trội hay lặn của nhiễm sắc thể và nhiều cơ chế di truyền khác. Ở những gia đình có người co giật do sốt thì nguy cơ co giật ở trẻ tăng gấp 2- 3 lần.

Chẩn đoán và xử trí co giật ở trẻ em

Thống kê qua điều tra cơ bản ở một xã miền Bắc và một xã miền Nam Việt Nam của Bộ môn Thần Kinh Đại Học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ trẻ bị co giật nhiều lần và được xác định là động kinh là 2/1000.

Cách dùng thuốc cho trẻ em

Không được dùng hoặc phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ những loại thuốc gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cơ thể, vì trẻ em là những cơ thể đang phát triển

Bệnh học ho gà

Viêm phổi: Là biến chứng thường gặp nhất, chiếm 20%, thường xảy ra vào tuần thứ 2, thứ 3 của giai đoạn ho cơn. Tác nhân có thể do chính bản thân B. pertussis nhưng thường gặp nhất là do vi khuẩn thứ phát xâm nhập vào.

Bệnh học HIV AIDS ở trẻ em

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh do HIV là các biểu hiện của nhiễm trùng cơ hội và các bệnh u. Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi ở nhiều cơ quan, dễ nhầm với nhiều bệnh.

Bệnh học đau bụng ở trẻ em

Siêu âm bụng: Có thể phát hiện dấu hiệu viêm hạch mạc treo, búi lồng, hay hình ảnh ruột thừa viêm hay dịch tự do hay khu trú trong ổ bụng hay hình ảnh giun ở đường mật, đường tụy..

Chăm sóc trẻ em thiếu máu do thiếu sắt

Cần phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt từ sớm, ngay từ khi trẻ ở thời kỳ bào thai, lưu ý tới những trẻ có nguy cơ như các trẻ đẻ non, sinh đôi, trẻ dưới 3 tuổi, trẻ bị thiếu sữa mẹ và các bà mẹ có thai

Gãy xương ở trẻ em

Xương trẻ em liền nhanh do cốt mạc liên tục, sự cấp máu phong phú, trẻ càng nhỏ liền xương càng sớm (sơ sinh 2 - 3 tuần, 7 - 10 tuổi là 6 tuần, trên 10 tuổi là 8 - 10 tuần).

Bệnh học bạch hầu

Người là ổ chứa của vi khuẩn bạch hầu. Bệnh lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang trùng bởi các chất tiết đường hô hấp hoặc qua các chất dịch ở sang thương ngoài da có chứa vi khuẩn bạch hầu.

Suy dinh dưỡng trẻ em

Trong đa số trường hợp, suy dinh dưỡng xảy ra do sự kết hợp của cả 2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào vừa tăng năng lượng tiêu hao (Ví dụ trẻ bệnh nhưng mẹ lại cho ăn kiêng).

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một chiến lược hay một giải pháp nhấn mạnh tới sự phát triển phổ câp các dịch vụ y tế. Các dịch vụ này người dân chấp nhân được, cố gắng chi trả được, có thể tiếp cân được, dựa vào cộng đổng và coi trọng việc nâng cao, duy trì sức khoẻ cho nhân dân.

Nhiễm trùng rốn sơ sinh

Theo tổ chức y tế thế giới, có tới 47% trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng huyết có ngõ vào từ nhiễm trùng rốn và khoảng 21% các trường hợp trẻ sơ sinh đến khám vì lý do khác có kèm theo nhiễm trùng rốn.

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không những có tỷ lê mắc bệnh cao mà còn bị mắc nhiều lần trong năm, trung bình 1 trẻ trong 1 năm có thể bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3 -5 lần, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng của trẻ, đổng thời làm giảm ngày công lao động của người mẹ

Xem theo danh mục