Bệnh học ngoại khoa

Bệnh học ngoại chấn thương ngực kín, chấn thương niệu đạo, chấn thương sọ não kín, chấn thương thận, dị dạng bẩm sinh vùng rốn

  • Bệnh học ngoại ống phúc tinh mạc

    Băng ép vùng bẹn với hy vọng ống phúc tinh mạc sẽ tự bít được. Biện pháp này trên thực tế rất khó thực hiện.

  • Bệnh học ngoại dị dạng bẩm sinh vùng rốn

    Thành bụng phát triển ngừng lại quanh chân của khối, chỉ còn lại một lớp màng túi mỏng phủ lên khối, qua lớp màng này có thể thấy các quai ruột hoặc gan ở bên dưới.

  • Bệnh học ngoại sỏi hệ tiết niệu

    Thành phần cấu tạo sỏi rất khác nhau và quá trình hình thành sỏi cũng rất phức tạp. Hiện nay chưa có một lý thuyết tổng quát về hình thành sỏi.

  • Bệnh học ngoại phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung)

    Đoạn đại tràng hẹp là đoạn vô hạch, chiều dài trung bình của đoạn vô hạch là 6-10cm. Chiều dài này có liên quan đến các biểu hiện lâm sàng của bệnh.

  • Bệnh học ngoại lồng ruột cấp ở trẻ còn bú

    Xảy ra chủ yếu ở trẻ bú mẹ. Bệnh có diễn tiến nhanh và đưa đến nhiều biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, hoại tử ruột, viêm phúc mạc, nhiễm độc.

  • Bệnh học ngoại tắc ruột sơ sinh

    Tùy theo loại bệnh mà đầu sonde sẽ có dính nhiều, ít hoặc không có phân su. Đây cũng là cách khám bắt buộc để hướng tới nguyên nhân gây bệnh.

  • Bệnh học ngoại teo đướng mật bẩm sinh

    Người ta còn phân teo đường mật thành các dưới-thể tương ứng hoặc là với sự thông thương hay không của đầu xa đường mật (ống mật chủ) hay với đầu gần (rốn gan).

  • Bệnh học ngoại khoa phi đại hẹp môn vị

    Một số tác giả cho là bệnh có liên quan đến gia đình, di truyền, chủng tộc. Một số khác lại đưa ra thuyết vô hạch, thuyết thần kinh - thể dịch.

  • Bệnh học ngoại khoa thoát vị cơ hoành bẩm sinh

    Cơ chế là do tình trạng giảm số lượng mạch máu phổi và giường mao mạch, cũng như sự gia tăng sự cản thành mạch do sự dày lên bất thường của thành mạch.

  • Bệnh học ngoại khoa teo thực quản

    Teo thực quản typ III được xem là thuận lợi về mặt phẫu thuật, bởi vì thông thường, khoảng cách giữa các túi bịt thực quản không dài quá 3 đốt sống.

  • Bệnh học ngoại khoa ung thư trực tràng

    Trực tràng là tạng phần lớn nằm ngoài phúc mạc, gồm có 2 phần: trực tràng chậu (bóng trực tràng) và trực tràng tầng sinh môn.

  • Bệnh học ngoại khoa ung thư đại tràng

    Những ung thư không phải biểu mô (u lympho không Hodgkin, u carcinoid, ung thư mô liên kết) chiếm khoảng 5% các ung thư mô đại tràng.

  • Bệnh học ngoại khoa thoát vị đùi

    Khi lỗ thoát vị đùi ở vị trí này phải chú ý: Phía ngoài cổ túi có tĩnh mạch đùi và phía trên cổ túi có động mạch thượng vị và nhánh nối động mạch thượng vị với mạch bịt.

  • Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn

    Thoát vị nói chung gặp trong khoảng 5% dân số thế giới. Trong đó thoát vị bẹn chiếm khoảng 80% trong tổng số các loại thoát vị. Trong thoát vị bẹn, nam giới bị gấp 7-8 lần nữ giới.

  • Bệnh học ngoại khoa tắc ruột

    Tắc ruột do liệt ruột gặp trong các trường hợp: sỏi tiết niệu, chấn thương cột sống hoặc khung chậu (tụ máu sau phúc mạc), viêm phúc mạc, viêm phúc mạc mật, tràn dịch tiêu hóa hoặc dịch tụy trong ổ phúc mạc.

  • Bệnh học ngoại khoa viêm ruột thừa cấp

    Dấu hiệu đau thực thể kinh điển ở hố chậu phải chỉ có khi ruột thừa bị viêm nằm ở vị trí phía trước. Cảm giác đau thường nhiều nhất ngay ở điểm đau Mac Burney hoặc gần với điểm Mac Burney.

  • Bệnh học ngoại khoa vết thương thấu bụng

    Thực tế khi có vết thương trực tiếp vào thành bụng mà không xuất hiện hội chứng mất máu cấp tính hoặc hội chứng viêm phúc mạc, chúng ta chỉ cần mở rộng thăm dò tổn thương thành bụng.

  • Bệnh học ngoại khoa chấn thương bụng kín

    Tìm điểm đau khu trú vùng chấn thương hay bị đau khắp bụng, tìm dấu hiệu phản ứng thành bụng hoặc co cứng tự nhiên của thành bụng.

  • Bệnh học ngoại khoa xuất huyết tiêu hóa

    Các nguyên nhân hay gặp của xuất huyết tiêu hóa cao bao gồm: Loét dạ dày - tá tràng, viêm dạ dày - tá tràng cấp, vỡ tĩnh mạch thực quản giãn do tăng áp tĩnh mạch cửa.

  • Bệnh học ngoại khoa ung thư gan

    Theo máu thường là di căn lên phổi, não, cột sống hoặc thâm nhiễm các tạng lân cận như dạ dày, đại tràng, cơ hoành, tĩnh mạch chủ dưới hoặc lan vào phúc mạc.

  • Bệnh học ngoại khoa áp xe gan amip

    Thường là nhiệt độ tăng đột ngột 39-400C, có thể kèm theo rét run, sau đó vã mồ hôi. Nhưng có thể chỉ tăng dần dần và với mức độ vừa phải.

  • Bệnh học ngoại khoa sỏi ống mật chủ

    Khi tắc mật, dịch mật không xuống tá tràng mà ứ đọng trong gan. Sắc tố mật, muối mật vào máu, bilirubin máu tăng cao, do sắc tố mật có màu vàng nên da, giác mạc mắt có màu vàng.

  • Bệnh học ngoại khoa ung thư dạ dày

    Khoảng 50% ung thư dạ dày là loại biệt hoá tốt, 30% loại không biệt hoá và 15% không xác định được.

  • Bệnh học ngoại khoa hẹp môn vị

    Loét dạ dày-tá tràng là nguyên nhân hay gặp nhất. Tất cả mọi vị trí của ổ loét ở dạ dày hay tá tràng, ở gần hay xa môn vị, đều có thể gây nên hẹp môn vị tạm thời hay vĩnh viễn.

  • Bệnh học ngoại khoa thủng dạ dày tá tràng

    Thường chỉ một lỗ, rất ít khi 2 hay nhiều lỗ. Có thể thủng ở một ổ loét non hay ở một ổ loét chai cứng. Có thể ở một ổ loét đã được khâu lần trước hay một ổ loét ở miệng nối.

  • Bệnh học ngoại khoa ung thư thực quản

    Ung thư thể thâm nhiễm chủ yếu phát triển ở lớp niêm mạc xâm lấn vào lớp dưới niêm mạc rồi vào lớp cơ, phát triển theo hình vòng nhẫn, do đó làm ống thực quản bị chít hẹp.