Dấu hiệu triệu chúng lâm sàng sốc bỏng

Ngày: 10 - 7 - 2013

Do thoát dịch, huyết tương từ lòng mạch ra khoảng gian bào. Nguyên nhân do tổn thương mao mạch, rối loạn vi tuần hoàn gây giãn mạch, tăng tính thấm, thoát huyết tương ra ngoài dưới hình thức phù ở vùng bỏng, vùng lân cận và còn là hiện tượng toàn thân.


Đại cương

Khái niệm

Sốc bỏng là trạng thái suy sụp đột ngột toàn bộ chức năng quan của cơ thể do chấn thương bỏng gây nên.

Sốc bỏng là trạng thái bệnh lý thường gặp ngay sau khi bị bỏng, ở thời kỳ thứ nhất của bệnh bỏng.

Sốc bỏng hay gặp ở bệnh nhân có diện tích bỏng rộng, độ sâu lớn:

Nếu diện tích bỏng dưới 10% diện tích cơ thể thường không có sốc.

Nếu diện tích bỏng trên 10% diện tích cơ thể tỷ lệ gặp sốc chiếm 40% tổng số nạn nhân.

Bỏng càng rộng, độ sâu càng lớn tỷ lệ sốc càng cao, sốc càng nặng. 

Mối liên quan giữa bỏng và sốc:

Qui định: 1% diện tích bỏng nông: 1 chỉ số Frank.

1% diện tích bỏng sâu: 3 chỉ số Frank.

Nếu chỉ số của Frank:

Dưới 30 Tỷ lệ sốc gặp 5%.

Từ 30-55 Tỷ lệ sốc gặp 44%.

Từ 56-120 Tỷ lệ sốc gặp 80-90%.

Trên 120 Tỷ lệ sốc gặp 100%.

Bỏng da kết hợp bỏng hô hấp: sốc gặp tỷ lệ cao (trên 80%), thường nặng.

Ở trẻ em và người già:

Tỷ lệ sốc cao hơn người trưởng thành.

Nếu chỉ số Frank trên 71 hoặc diện tích bỏng sâu trên 20% ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­=> tỷ lệ sốc 100%.

Bệnh sinh sốc bỏng

Đau đớn quá mức:

Tổn thương kích thích nhiều tận cùng thần kinh gây hưng phấn, sau ức chế hệ thần kinh trung ương, gây rối loạn toàn bộ các cơ quan, hệ thống gây sốc.

Do rối loạn tuần hoàn:

Đặc biệt giảm khối lượng máu lưu hành, mà những rối loạn bệnh lý tại vùng tổn thương có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh.

Có nhiều cơ chế làm giảm khối lượng máu lưu hành:

Do thoát dịch, huyết tương từ lòng mạch ra khoảng gian bào. Nguyên nhân do tổn thương mao mạch, rối loạn vi tuần hoàn gây giãn mạch, tăng tính thấm, thoát huyết tương ra ngoài dưới hình thức phù ở vùng bỏng, vùng lân cận và còn là hiện tượng toàn thân. Thoát huyết tương xuất hiện sớm 5 phút sau, cao nhất 3-6 giờ, kết thúc 8 giờ 30 kéo dài tới ngày thứ 3, có thể đạt 2-5l/24 giờ.

Mất dịch qua vết bỏng do bốc hơi: Mất hơn da bình thường 0,84 ± 0,04 ml/ cm2/ 24 giờ.

Ngòai ra mất dịch qua đường hô hấp, qua chất nôn.

Ở bệnh nhân bỏng nặng, sự giảm khối lượng máu lưu hành có thể tới 30- 40%.

Bên cạnh giảm khối lượng máu lưu hành, rối loạn vi tuần hoàn (do giãn, do thoát huyết tương, máu cô) dẫn tới đông máu dải rác lòng mạch => tắc nghẽn => hoại tử tổ chức.(Hc bị huỷ còn do hc bị giảm trong nhiều mao mạch do toan hoá).

Tan vỡ hồng cầu do tác dụng trực tiếp yếu tố nhiệt có vai trò quan trọng. nếu diện bỏng sâu lớn, tan huyết có thể còn tới 30-40%.

Hậu quả của những rối loạn trên dẫn tới thiếu oxy tổ chức:

Rối loạn nước, điện giải.

Rối loạn cân bằng acid- base.

Suy tim do gắng sức, rối loạn đông máu => Suy sụp tuần hoàn.

Sốc bỏng khác sốc chấn thương

Sốc chấn thương:

Yếu tố tác dụng thường hạn chế trong thời gian ngắn.

Sốc bỏng:

Thời gian gây chấn thương liên quan đến tổn thương, do đó yếu tố tác dụng thường kéo dài => sốc kéo dài.

Có hiện tượng thoát dịch qua thành mạch ra ngoài

Có tiêu huyết.

Lâm sàng

Sốc cương

Biểu hiện trạng thái bù đắp quá mức, đáng lưu ý hiện tượng trung tâm hoá tuần hoàn.

Gặp ở bệnh nhân đến sớm, trong những giờ đầu sau bỏng hoặc bệnh nhân bỏng nhẹ, vừa (theo Visơnhepski 1967: gặp 12,5%).

Biểu hiện: - Kích thích vật vã.

Huyết áp động mạch tăng, áp lực tĩnh mạch trung ương tăng, mạch nhanh, nẩy. Huyết áp tăng nhất thời do trung tâm co mạch hưng phấn tăng tiết cathecholamin gây co mạch.

Thở nhanh sâu do trung khu hô hấp hưng phấn.

Diễn biến

Có thể phục hồi (nếu diện bỏng không rộng, bệnh nhân được điều trị kịp thời) sốc cương đơn thuần

Bỏng nặng => chuỷên sốc nhược.

Sốc nhược:

Có thể xuất hiện muộn sau vài giờ ( giơ thứ 5-6), song song mức thoát huyết tương và giảm khối lượng máu lưu hành, cũng có thể xuất hiện sau những chấn thương bổ sung khi vận chuyển, khi sử lý vết thương sớm.

Nếu bỏng rộng, độ sâu lớn, sốc nhược có thể xuất hiện ngay, thường nặng.

Triệu chứng báo hiệu chuyển sốc nhược: huyết áp giảm, mạch tăng dần (xuất hiện sớm hơn huyết áp)

Các biểu hiện: 

Tâm thần kinh: Có thể trong trạng thái tinh thần kích thích hoặc ức chế ngay từ đầu.

Kích thích:

Lo lắng, vật vã, kêu đau.

Kêu lạnh, rung cơ, rét run.

Khát nước, đòi uống.

Ý thức còn.

Kéo dài 1-2 giờ, sau dần chuyển sang trạng thái ức chế. 

Ức chế: 

Thờ ơ ngoại cảnh.

Cảm giác đau đớn hầu như giảm, nhưnmg bất kỳ yếu tố nào: băng bó, vận chuyển, thay đổi tư thế, cảm giác đau tăng. 

Nặng: Hôn mê. 

Rối loạn thần kinh thực vật: Thường biểu hiện nặng, vã mồ hôi, chân tay lạnh. 

Tuần hoàn: 

Mạch nhanh nhỏ, có khi yếu không bắt được, mạch =0. Là triệu chứng quan trọng của sốc bỏng. Mạch nhanh do huyết áp giảm gây kích thích trung khu tim đập nhanh. Mạch yếu do giảm khối lượng máu lưu hành. 

Huyết áp động mạch (HAĐM) thường giảm, nặng hơn có thể mờ, hoặc bằng 0. HAĐM có mối liên quan chặt chẽ với các chỉ số khác.

Trong sốc bỏng, huyết áp giảm do hàng đầu giảm khối lượng máu lưu hành, ngoài ra do giảm sức co bóp cơ tim, co giãn mạch (suy mạch cấp do trung tâm vận mạch bị ức chế).

Huyết áp tĩnh mạch trung ương (HATMTW): là triệu chứng quan trọng. Nó biểu hiện:

Khối lượng máu lưu hành.

Sức co bóp cơ tiim.

Trương lực mạch ngoại vi.

Đánh giá hiệu quả, mức độ an toàn của biện pháp truyền dịch.

HATMTW bình thường 8-12 cm H2O. Trong sốc bỏng, nó giảm, thường do khối lượng máu lưu hành giảm. 

Xanh xao, đôi khi xanh tím, liên quan rối loạn vi tuần hoàn và hoạt động tim.

Hô hấp: 

Thường ít rối loạn, có thể gặp ran ẩm do tăng tiết, qua giai đoạn sốc triệu chứng này mất. 

Nặng có thể thở nhanh nông, chậm nông, loạn nhịp, có thể phát sinh rối loạn hô hấp chu kỳ do trung khu hô hấp bị ức chế. Tiên lượng xấu nêú suy hô hấp sớm, ngáp cá: trạng thái tận cùng.

Rối loạn bài tiết nước tiểu:

Đóng vai trò rất quan trọng đánh giá mức độ sốc và hướng dẫn cách điều trị.

Số lượng:

Thiểu niệu từng đợt hoặc kéo dài, số lượng nước tiểu dươid 500 ml/ 24 giờ hoặc 30ml/h.

Nặng: vô niệu, số lượmg nước tiểu < 300ml/24h hoặc vô niệu hoàn toàn.

Rối loạn bài niệu là triệu chứng sớm (theo Paris 1967: gặp 98%), ngay cả khi những thay đổi mạch, huyết áp chưa xuất hiện. Nó có giá trị chẩn đoán và tiên lượng, là căn cứ tính lượng dịch truyền.

Màu sắc:

Nước tiểu có thể vàng trong.

Nặng: màu đỏ, nâu sẫm (biểu hiện đái Hb).

Có thể mùi khét, mùi sừng cháy.

Tiêu hoá: 

Nôn, buồn nôn, nôn liên tục nôn ra máu, màu nâu đen hoặc máu tươi. 

Chướng bụng, có thể gây khó thở cấp. Biểu hiện liệt dạ dày, ruột cấp.

Có thể gặp loét cấp ống tiêu hoá: Curling -tiên lượng thường nặng. loét dạ dày tá tràng do rối loạn chức năng hệ tktw, do máu cô, xung huyết dạ dày, ruột. Tăng tính thấm, ứ máu, nghẽn mạch, RL nội tiết, RL dd .

Thân nhiệt:

Thân nhiệt thường giảm, ở trẻ em và một số người lớn có thể sốt cao co giật.

Thân nhiệt nếu quá tăng hoặc quá giảm tiên lượng đều nặng. 

Cận lâm sàng:

Có thể có các biểu hiện máu cô, rối loạn nước, điện giải, rối loạn cân bằng acid- base, rối loạn chức năng bài tiết nước tiểu.

Máu: 

Máu cô: Phản ứng cơ thể tăng hồng cầu dự trữ, thoát huyết tương. 
Hồng cầu tăng, hematocrit tăng, Hb tăng ( biểu hiện mất huyết tương do thoát qua vết bỏng và thoát vào khoảng gian bào), bạch cầu tăng (do cô máu, do tăng phản xạ). 

Tan máu: Tình trạng máu cô có thể bị che mờ do tan máu với biểu hiện:

HC bình thường, xuất hiện HC nhỏ, HC giảm tới 1,9- 2/109/l.

Hb tự do tăng.

Hb giảm. thường khi HC bị huỷ tới 40% sẽ ảnh hưởng tới tình trạng cô máu (cơ chế tan máu chủ yếu do yếu tố nhiệt và phản ứng miễn dịch).

Rối loạn nước, điện giải:

Quan trọng nhất là Na+ và K+.

Cơ chế: bỏng gây trạng thái strees => hoạt hoá thuỳ trước tuyến yên => tăng tiết corticoide khoáng. Cụ thể: Đặc trưng sốc bỏng là Na+ giảm, K+ tăng. 

Na+ giảm do: Na+ bị giữ lại ở tổ chức => phù.

Mất qua vết bỏng.

Na+ máu giảm kèm theo Cl- máu giảm.

K+ tăng: do sự thoát và chuyển dịch K+ ở mô tế bào bị tổn thương ra khoảng gian bào ( K+ máu tăng khi khối lượng lớn cơ bị tổn thương).

Liên quan rối loạn điện giải đồ ở nước tiểu:

K+ niêụ tăng do tăng thải K+.

Na+, CL- giảm do trong máu giảm.

Hệ số K+/ Na+ trong sốc bỏng có thể tăng ³ 1,5 ( bình thường 0,5).

Rối loạn cân bằng acid - base: do tăng tạo acid trong cơ thể và do ứ đọng acid (suy thận).

Đặc trưng nhiễm acid chuyển hoá: các biểu hiện:

Tăng hô hấp ( thải CO2).

pCO2 máu giảm.

pH giảm.

HCO3 giảm .

Rối loạn đông máu:

Có thể tăng đông giai đoạn sớm.

Hiếm gặp hội chứng đông máu rải rác lòng mạch 

Rối loạn bài tiết nước tiểu:

Nitơ máu tăng.

Acid lactic tăng.

Urê máu tăng.

Creatinin máu tăng.

Các xét nghiệm khác:

Protit máu giảm.

Glucose máu tăng gây glucose niệu (+).

Glucose máu tăng do: Giảm tiết Insulin, tăng tiết Glucagon, Adrenaline, ACTH, Gluocosticoide.

Nước tiểu:

Protein niệu (+).

Có hồng cầu, bạch cầu, trụ hạt.

Hb niệu (+), urobilin (+).

Tỷ trọng nước tiểu tăng.

Diễn biến sốc bỏng

Kéo daì từ một vài giờ tới 2-3 ngày (nặng kéo dài 3 ngày).

Bệnh nhân thoát sốc: mất dần các triệu chứng sốc, xuất hiện các triệu chứng giai đoạn II. Thực tế lâm sàng khi các triệu chứng ổn định trên 6 giờ. Tuy nhiên gianh giới giữa thời kỳ I và II là không rõ ràng ( huyết áp tăng dần, mạch giảm dần, môi và đầu chi hồng hơn, nước tiểu trong và số lượng tăng dần).

Mức độ sốc bỏng

TRIỆU CHỨNG

MỨC NHẸ

SỐC NẶNG

SỐC RẤT NẶNG

1. Rối loạn bài niệu

Thiểu niệu

Thiểu niệu, vô niệu

Vô niệu hoàn toàn hoặc tái phát

2. Hb

(-)

Muộn, có trong vài giờ

xuất hiện sớm, kéo dài

3. Tăng Nitơ máu

Hiếm gặp

Thường cuối ngày1, tăng ngày 2-3 (có thể 70mg%)

xuất hiện ngay những giờ đầu, tăng cao ngay từ cuối ngày1 (100mg%)

4. Nôn

Hiếm gặp

Hay gặp. Phản ứng tìm hồng cầu trong chất nôn

Nôn liên tục, nôn ra máu đại thể

5. áp lực tĩnh mạch trung ương giảm

Hiếm gặp

Thường xuyên

Thường xuyên

6. HAĐM

Không giảm hoặc giảm nhưng không dưới 80mm Hg

Thường giảm dưới 80 mm Hg, đôi khi bằng 0

Giảm dưới 80mm Hg

7. Thân nhiệt

37o-38o ( sốt nhẹ hoặc bình thường)

36o- 37o ( bình thường hoặc đôi khi giảm)

dưới 36o ( giảm dưới mưcs bình thường)

8. Bụng chướng

Không gặp

Hiếm gặp

Gặp ngay trong những giờ đầu, tăng từng giờ

Ngoài ra Paris còn nêu 2 triệu chứng hay gặp là rét run và máu cô. 

Biến chứng trong sốc bỏng

Tràn máu phế nang

Bệnh cảnh suy hô hấp cấp thường gặp sau bỏng hô hấp. 

Triệu chứng: ho máu tươi + rên ướt + suy hô hấp + X quang phối hình tam giác mờ. 

Thủng loét cấp ống tiêu hoá

Loét Curling, biểu hiện xuất huyết tiêu hoá hoặc hội chứng bụng ngoại khoa do thủng.

Đông maú rải rác lòng mạch

Biểu hiện tím đầu chi, thời gian máu chảy, máu đông kéo dài, thời gian Howell tăng, tiểu cầu giảm, tỷ lệ prothrombin giảm, nghiệm pháp rượu (+).

Suy thận cấp

Do kích thích đau đớn quá mức gây co thắt phản xạ các mạch máu => thận thiếu máu.

Do huyết tương thoát qúa nhiều gây chèn ép cuộn mạch trong cầu thận
(bao Bowman giãn rộng thấm đầy huyết tương gây chèn ép cuộn mạch). 

Do khối lượng máu lưu hành giảm => luồng máu qua thận giảm => huyết áp động mạch giảm thấp kéo dài, luồng máu chậm 50% => khả năng lọc cầu thận giảm. 

Do tăng Hormon thuỳ sau tuyến yên: Aldosterol và vasopressin, gây tăng tái hấp thu ống thận.

Những nguyên nhân này có thể phục hồi nếu điều trị sớm và tốt.

Do tổn thương thực thể: hoại tử ống thận cấp (hậu quả thiếu oxy kéo dài) => suy thận cấp thực thể.

Do huyết tán, Hb tự do trong máu tăng => nước tiểu sẽ có HC, khuôn trụ hình Hb => thiểu niệu.

Nếu kèm theo nhiễm toan chuyển hoá sẽ nguy hiểm, vì Hb tự do không được tống dễ dàng khỏi thận mà biến thành Hematin chlorhydrat => tắc ống thận => vô niệu.

Đặc điểm sốc bỏng ở người già và trẻ em

Người già

Hay gặp rối loạn thiếu máu, rối loạn tim mạch.

Hay thiểu niêụ, vô niệu.

Thân nhiệt thường giảm.

Bạch cầu thường không cao.

Glucose máu tăng cao, protit máu tăng cao.

Trẻ em

Có thể gặp sốc ở diện tích không lớn: trẻ em dưới 3 tuổi, có thể gặp sốc ở diện tích 3-5%. Khi diện tích bỏng trên 10% nguy cơ xuất hiện sốc.

Thường sốt cao kèm huyết áp động mạch tăng.

Bạch cầu tăng cao.

Máu cô không nặng hơn người lớn.

Cặn N thường không cao nhiều.

Sốc ở bệnh nhân bỏng da và bỏng hô hấp

Tỷ lệ sốc tăng cao 3 lần.

Tiên lượng nặng.

Các rối loạn đều nặng hơn: máu cô, huyết áp giảm rối loạn điện giải nặng. 

Rối loạn hô hấp hay gặp.

 


Bài xem nhiều nhất

Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn

Thoát vị nói chung gặp trong khoảng 5% dân số thế giới. Trong đó thoát vị bẹn chiếm khoảng 80% trong tổng số các loại thoát vị. Trong thoát vị bẹn, nam giới bị gấp 7-8 lần nữ giới.

Bệnh học ngoại khoa viêm ruột thừa cấp

Dấu hiệu đau thực thể kinh điển ở hố chậu phải chỉ có khi ruột thừa bị viêm nằm ở vị trí phía trước. Cảm giác đau thường nhiều nhất ngay ở điểm đau  Mac Burney hoặc gần với điểm Mac  Burney.

Bệnh học ngoại chấn thương cột sống

Các thương tổn mô tủy do hoại tử mô tủy vì thiếu máu tại chỗ và tụ máu trong mô tủy. Đối với các đoạn lưng nhất là đoạn ngang khoanh tủy sống lưng thứ tư tuần hoàn rất nghèo nàn các thương tổn ở đây rất trầm trọng.

Bệnh học ngoại chấn thương sọ não kín

Là những tổn thương xảy ra sau chấn thương, thường là các loại máu tụ trong hộp sọ cấp, bán cấp và mãn tính. Ngoài màng cứng, dưới màng cứng và trong não hoặc phối hợp các loại máu tụ trên cùng một bệnh nhân.

Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng

Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp.

Bệnh học ngoại gẫy hai xương cẳng tay

Kéo theo trục cẳng tay với lực kéo liên tục và tăng dần, đến khi hết  di lệch chồng (= do chiều dài)  thì nắn các di  lệch sang bên, gập góc còn lại. Di lệch xoay đã được nắn khi đặt tư thế.

Bệnh học ngoại gẫy xương cẳng chân

Rối loạn dinh dưỡng biểu hiện sớm, xuất hiện các nốt phỏng có dịch và máu. Rối loạn muộn sau tháo bột thường thấy bàn chân sưng nề, da khô, đau. Để đề phòng cần tập vận động sớm và chống huyết khối ở bệnh nhân nằm lâu.

Bệnh học ngoại khoa tắc ruột

Tắc ruột do liệt ruột gặp trong các trường hợp: sỏi  tiết niệu, chấn thương cột  sống hoặc khung chậu (tụ máu sau phúc mạc), viêm phúc mạc, viêm phúc mạc mật, tràn dịch tiêu hóa hoặc dịch tụy trong ổ phúc mạc.

Bệnh học ngoại khoa thủng dạ dày tá tràng

Thường chỉ một lỗ, rất ít khi 2 hay nhiều lỗ. Có thể thủng ở một ổ loét non  hay ở một ổ loét chai cứng. Có thể ở một ổ loét đã được khâu lần trước hay một ổ loét ở miệng nối.

Bệnh học ngoại gẫy thân xương đùi

Vị trí gãy ở vùng 5cm dưới mấu chuyển bé. Đây là vị trí gãy có nhiều di lệch phức tạp do sự co kéo mạnh của các khối cơ theo nhiều hướng khác nhau ở đầu trên xương đùi.

Bệnh học ngoại u xơ tiền liệt tuyến

Hai phần tách biệt nhau bởi một màng trung gian. U xơ tiền liệt tuyến luôn luôn được sinh ra ở phần trên ụ núi trong khi ung thư tiền liệt tuyến luôn luôn ở phần ngoại vi.

Bệnh học ngoại sỏi hệ tiết niệu

Thành phần cấu tạo sỏi rất khác nhau và quá trình hình thành sỏi cũng rất phức tạp. Hiện nay chưa có một lý thuyết tổng quát về hình thành sỏi.

Bệnh học ngoại khoa sỏi ống mật chủ

Khi tắc mật, dịch mật không xuống tá tràng mà ứ đọng trong gan. Sắc tố mật, muối mật vào máu, bilirubin máu tăng cao, do sắc tố mật có màu vàng nên da, giác mạc mắt có màu vàng.

Bệnh học ngoại gẫy xương hở

Ngoài vết thương phần mềm gây chảy máu, trong gãy xương hở cũng có thể kèm theo các tổn thương động mạch, có thể do đầu xương gãy chọc thủng hoặc đứt. Cần phải phát hiện kịp thời và xử trí đúng mức. 

Bệnh học ngoại trật khớp vai

Nhìn phía nghiêng rãnh delta ngực không rõ. Chỏm xương cánh tay gồ lên ở phía trước khiến đường kính trước sau vai dày ra.

Bệnh học ngoại khoa hẹp môn vị

Loét dạ dày-tá tràng là nguyên nhân hay gặp nhất. Tất cả mọi vị trí của ổ loét ở dạ dày hay tá tràng, ở gần hay xa môn vị, đều có thể gây nên hẹp môn vị tạm thời hay vĩnh viễn.

Bệnh học ngoại phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung)

Đoạn đại tràng hẹp là đoạn vô hạch, chiều dài trung bình của đoạn vô hạch là 6-10cm. Chiều dài này có liên quan đến các biểu hiện lâm sàng của bệnh.

Bệnh học ngoại gãy trên lồi cầu xương cánh tay

Gãy trên lồi cầu đứng thứ mười trong các loại gãy xương ở trẻ con nói chung, thường tỷ lệ biến chứng cao hơn so với các gãy chi khác, hay gặp di chứng vẹo khuỷu vào trong hoặc vẹo khuỷu ra ngoài nếu điều trị không tốt.

Bệnh học ngoại chấn thương thận

Trên thực tế chính nhu mô thận là tổ chức dễ bị rách nhất, trong khi đó mạch máu - nhất là động mạch lại chịu đựng tốt hơn đối với lực chấn thương.

Chẩn đoán độ sâu của tổn thương bỏng

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán diện tích, độ sâu của tổn thương bỏng, cùng với sự phát triên khoa học và công nghệ. Trong phạm vi bài giảng, chỉ đề cập những phương pháp cơ bản, dễ áp dụng trong thực tế.

Bệnh học ngoại gẫy cổ xương đùi

Nếu điều trị tốt có thể tránh được các biến chứng toàn thân, xương liền sau 3-4 tháng, không có di chứng. Nếu điều trị không tốt thì để lại nhiều biến chứng.

Bệnh học ngoại gãy thân xương cánh tay

Gãy giữa chỗ bám của cơ ngực lớn và chỗ  bám của cơ delta: Đầu trên khép (do cơ ngực lớn kéo), đầu dưới di lệch lên và ra ngoài (do cơ delta kéo).

Bệnh học ngoại chấn thương ngực kín

Đối với trường hợp tràn máu màng phổi số lượng lớn, có thể đặt ra vấn đề truyền máu hoàn hồi lượng máu dẫn lưu. Cần đảm bảo vô trùng và bộ phận lọc máu đúng quy cách.

Bệnh học ngoại khoa xuất huyết tiêu hóa

Các nguyên nhân hay gặp của xuất huyết tiêu hóa cao bao gồm: Loét dạ dày  - tá tràng, viêm dạ dày - tá tràng cấp, vỡ tĩnh mạch thực quản giãn do tăng áp tĩnh mạch cửa.

Bệnh học ngoại trật khớp háng

Chi bị trật khớp mất cơ năng hoàn toàn, với kiểu chậu sờ phát hiện được mấu chuyển lớn lên cao hơn so với đường Nélaton - Roser do đó có dấu  hiệu ngắn chi.

Xem theo danh mục