Chết treo cổ trong y pháp


Ngày: 28 - 3 - 2013

Rãnh treo là dấu hiệu đặc thù để xác định chết treo, vì thế khi khám nghiệm cần quan sát và mô tả kỹ về hình dáng, màu sắc, kích thước, vị trí, tính chất và đặc điểm của rãnh treo.

Đại cương

Chết treo cổ là trạng thái chết do một vòng dây hoặc một vật ấn quanh cổ làm nạn nhân bị ngạt bởi chính sức nặng của bản thân mình.

Chết treo cổ là hình thái thường gặp trong y pháp. Nguyên nhân chủ yếu là tự sát thường gặp ở đàn ông nhiều hơn đàn bà, sau đó là tai nạn có thể xảy ra trong lao động, trèo cây, say rượu... Án mạng thường ít gặp, tuy nhiên dựa vào hoàn cảnh tự sát, nhiều kẻ lợi dụng để treo xác chết nạn nhân sau khi đã gây án.

Triệu chứng lâm sàng

Qua các trường hợp nạn nhân được cứu sống và theo dõi trên thực nghiệm người ta tóm tắt qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn I: Cảm giác nóng mặt, nổi đom đóm, đau cổ nặng và đau nhói hai chân, tim đập nhanh, hô hấp chậm rồi bất tỉnh.

Giai đoạn II: Nhịp tim nhanh, mất các phản xạ, co giật, ỉa đái.

Giai đoạn III: Hết co giật, thở ngắn rồi ngừng thở hẳn, đây là điểm chết giả, nếu cứu chữa có thể sống

Giai đoạn IV: Tim đập nhanh, huyết áp cao rồi hạ và chết hẳn.      

Cơ chế chết treo cổ

Ở vùng cổ có 3 bộ phận quan trọng là: Hệ mạch cảnh, khí quản, và thần kinh phế vị. Dây treo sẽ tác động vào 3 bộ phận này và gây nên cái chết. Vì vậy chết treo cổ có thể xảy ra 3 cơ chế.

Chèn ép mạch máu

Gây thiếu máu, ứ máu và phù não, thường là nút buộc sau gáy.

Chèn ép đường hô hấp

Dây treo ép khí quản vào cột sống, đồng thời kéo cuống lưỡi lên làm lấp hầu họng và gây ngạt, thường gặp nút buộc cạnh cổ hoặc sau gáy.

Trên thực nghiệm của Hoffmann và Brouardel cho thấy:

Sức nặng 2 kg làm tắc tĩnh mạch cảnh.

Sức nặng 5 kg làm tắc động mạch cảnh.

Sức nặng 15 kg làm tắc khí, phế quản.

Sức nặng 25 kg làm ngưng tuần hoàn ở đầu.

Sức nặng 30 kg làm tắc các động mạch trong cột sống.

Do ức chế

Dây treo ép vào thần kinh phế vị và hệ giao cảm xung quanh động mạch cổ, tạo nên phản xạ gây ngừng tim và ngừng thở.     

Giám định y pháp

Tư thế treo

Treo hoàn toàn (treo lơ lửng) là tư thế treo mà không có bộ phận nào của cơ thể chạm vào vật khác ngoài vòng dây ở cổ.

Treo không hoàn toàn: Là tư thế treo mà có bộ phận cơ thể chạm vào vật khác ngoài vòng dây ở cổ như chân, lưng, mông, gối... chạm vào đất hoặc các vật khác. Ðối với tư thế treo này có thể có những tổn thương trên cơ thể do hiện tượng đụng chạm gây nên.

Loại dây và nút buộc

Dây treo rất đa dạng, có thể là dây cứng như dây đồng, dây sắt...  hoặc dây mềm như dây thừng, dây vải, dây chuối...

Nút buộc có hai loại:

Nút buộc cố định , có chu vi vòng dây không thay đổi.

Nút buộc di động, có chu vi vòng dây thay đổi còn gọi là thòng lọng.

Vị trí nút buộc có thể ở trước cổ, sau gáy, bên phải hoặc bên trái cổ.

Ðặc biệt có trường hợp không có dây mà cổ nạn nhân móc vào chạc cây.

Dấu vết trên tử thi

Dấu hiệu bên ngoài:

Rãnh treo:

Là một vết hằn chạy chếch quanh cổ, không khép kín, có đỉnh là vị trí nút buộc. Rãnh treo thường là một vòng không khép kín, vòng kín chỉ gặp trong trường hợp dây treo cuốn hai hoặc nhiều vòng, nhưng bao giờ cũng có một vòng không khép kín.

Rãnh treo điển hình: Nơi nằm sâu nhất thường ở một bên cổ đối diện với nút buộc, thường ở sau tai. Rãnh treo nằm ngang khi nạn nhân treo nằm. Ðặc điểm của rãnh treo gắn liền với đặc điểm của dây treo:

Dây treo rắn, hẹp: Rãnh treo sâu và rõ, đáy cứng như bìa do ép tổ chức.

Rãnh treo sâu ở phía đối diện, nông dần và mất hẳn ở vị trí nút buộc, xung quanh rãnh treo có thể thấy các vết xây xát da do nạn nhân giãy giụa.

Dây treo mềm, bản lớn rãnh treo nông và mờ.

Rãnh treo là dấu hiệu đặc thù để xác định chết treo, vì thế khi khám nghiệm cần quan sát và mô tả kỹ về hình dáng, màu sắc, kích thước, vị trí, tính chất và đặc điểm của rãnh treo.

Các dấu hiệu chung bên ngoài:

Vết hoen tử thi: Dấu hiệu này phù hợp với tư thế treo, nếu treo lơ lửng thì hoen ở phần ngọn chi, treo quỳ hoen ở gối và mặt trước hai chân, nếu treo nằm nghiêng hoen ở mạng sườn phía thấp... Trong trường hợp treo lâu thì hoen mới xuất hiện như trên, nếu mới chết mà đã hạ xuống thì hoen tử thi hình thành theo tư thế hạ.

Tư thế đầu: Ðầu nghiêng về phía đối diện với nút buộc, nếu như nút buộc ở gáy thì đầu cúi, nút buộc trước cổ thì đầu ngửa...

Mặt trắng bợt nếu nút buộc ở cằm do máu dẫn lên mặt và đầu ít, loại này chết chậm. Mặt tím tái khi nút buộc ở gáy do máu không lên đầu được, loại này chết rất nhanh.

Các dấu hiệu không thường xuyên: Lè lười, lồi mắt, xuất tinh, ỉa đái... Những vết bầm máu xây xát có thể thấy ở tay, chân khi nạn nhân vùng vẫy va vào các vật xung quanh.

Dấu hiệu bên trong

Ðáy rãnh treo điển hình là một đường màu trắng bóng do tổ chức bị ép, kèm theo các chấm chảy máu nhỏ.

Bầm máu là dấu hiệu quan trọng, nhất là cơ ức - đòn - chủm, có thể gặp cả ở thanh quản, chảy máu cơ ngực lớn, cơ bả vai.

Có thể gãy sụn giáp, sụn thanh khí quản, gãy cột sống cổ nhưng hiếm gặp.

Tổn thương mạch máu: Có thể thấy rách ngang nội mạc động mạch cảnh 5%-10% và bầm máu quanh động mạch cảnh thường là động mạch cảnh gốc.

Não trắng hoặc xung huyết đỏ rực tùy trường hợp máu có lên được não hay không.

Các phủ tạng có tổn thương của ngạt nói chung.

Phân biệt chết treo hay treo xác chết

Khi có trường hợp treo cổ thì vấn đề y pháp phải đặt ra là xác định chết treo hay treo xác chết.

Chết treo cổ dấu hiệu cơ bản dựa vào là: Các tổn thương đều bầm, ngấm máu kể cả bờ rãnh treo cùng như các chấm chảy máu ở các phủ tạng. Treo xác chết thì không có các dấu hiệu trên. Tuy nhiên trong một số trường hợp các dấu vết không rõ ràng hoặc tử thi đã thối rữa việc xác định thường rất khó khăn.

Chết treo cổ nguyên nhân chính là tự sát. Treo cổ do án mạng ít gặp vì nạn nhân chống cự mãnh liệt, kêu la nên khó thực hiện.

Trong thực tế có những trường hợp tự sát bằng cách bắn, cứa cổ hoặc dùng độc chất nhưng chưa chết sau đó mới thực hiện treo cổ. Vì vậy phải kết hợp khám nghiệm y pháp tử thi với việc xác định điều tra hiện trường để phân biệt tự sát hay án mạng.


Bài xem nhiều nhất

Chết treo cổ trong y pháp

Rãnh treo là dấu hiệu đặc thù để xác định chết treo, vì thế khi khám nghiệm cần quan sát và mô tả kỹ về hình dáng, màu sắc, kích thước, vị trí, tính chất và đặc điểm của rãnh treo.

Tử thi học y pháp

Người ta xác định được rằng sau khi chết, nước ở tử thi sẽ mất dần qua bốc hơi ở bề mặt tử thi, khiến trọng lượng của tử thi giảm đi. Trung bình trọng lượng giảm 1kg mỗi ngày.

Y pháp chấn thương

Tất cả những tổn thương ở phần cứng và phần mềm đều do các vật gây nên. Mỗi loại vật tác dụng trên cơ thể tạo nên những tổn thương có đặc điểm riêng của nó, chính những đặc điểm này giúp cho giám định viên phán đoán được loại hung khí gây nên.

Cưỡng dâm hiếp dâm hãm dâm và y pháp sinh dục

Người bị hiếp dâm có thể xảy ra khi đang làm việc bình thường, đang ngủ, say rượu, gây mê chưa tỉnh, bị thôi miên hoặc mắc bệnh rối loạn tâm thần.

Y pháp độc chất

Trong cuộc sống hàng ngày xung quanh chúng ta có rất nhiều những chất gây độc, từ cây cỏ tự nhiên đến các sản phẩm hóa học, hóa dược, nên người ta thường dễ kiếm, dễ sử dụng và tình trạng trúng độc ngày càng tăng.

Chết trong chất lỏng

Các trường hợp đặc biệt như chết trong bể nước, chum vại gặp trường hợp những người đang thiếu máu hoặc trẻ em. Chết trên vũng nước gặp ở người động kinh khi lên cơn ngã úp xuống vũng nước.

Đại cương về chết ngạt

Máu có đủ oxygen nhưng hô hấp tế bào không thu nhận được chúng gặp trong trường hợp ngộ độc acid xyanhydric (HCN) và một số chất khác.

Chết ngạt do oxide carbon

Như vậy nếu nồng độ oxide carbon là 0,07% thì tất cả hemoglobin sẽ bất động và dẫn đến ngộ độc oxide carbon. Nếu nồng độ oxide carbon thấp hơn 0,07% thì chỉ một phần hemoglobin bất động và gây nên ngộ độc nhẹ hoặc kinh niên.

Chết chẹn cổ trong y pháp

Cơ chế chết do chẹn cổ tương tự như chết trong treo cổ là chèn ép khí quản, chèn ép mạch máu và phản xạ ức chế. Nhưng trong chẹn cổ vì có sự chống đỡ của nạn nhân nên các cơ chế xảy ra không hoàn toàn và do đó rất phức tạp.

Y pháp thương tích do hỏa khí

Ðể có thể giải đáp được những thương tích và dấu vết do hỏa khí để lại, giám  định viên cần vận dụng thêm những kiến thức về toán học, vật lý, hóa học, hóa học y pháp (hóa pháp) trong công tác giám định.