Đặt ống thông vào mạch máu bằng phương pháp Desilet

Ngày: 30 - 9 - 2014

Địa điểm chọc kim: dưới cung đùi 2cm, phía trong động mạch đùi 5mm. Kim hướng lên trên, theo một góc 30° với mặt da về phía rốn. Chọc sâu 5 - 10mm, đôi khi 20 - 30mm ở người béo.

Mục đích

Phương pháp Desilet cho phép đặt một ống thông to vào mạch máu lón một cách an toàn.

Ống Desilet là ống dùng để dẫn ống thông luồn qua ống Desilat vào mạch máu (thường là tĩnh mạch đùi).

Chỉ định

Truyền dịch và máu vói một số lượng lớn.

Đặt ống thông điện cực để kích thích tim và ghi được điện thế bó His.

Chạy thận nhân tạo.

Thay một ống thông đang dùng bằng một ống thông khác đưa vào tĩnh mạch.

Chống chỉ định

Người bệnh có giảm tiểu cầu, sốt xuất huyết.

Chuẩn bị

Cán bộ chuyên khoa

Một bác sĩ chuyên khoa hồi sức cấp cứu đã làm thủ thuật này.

Một y tá (điều dưỡng) chăm sóc hô hấp.

Quần áo, găng, mũ, khẩu trang vô khuẩn.

Phương tiện

Bộ ống Desilet và lớp áo ngoài.

Ống thông tĩnh mạch (hoặc ống thông điện cực)

Dụng cụ tiểu phẫu.

Kim và chỉ lanh 3/0.

Dụng cụ sốt khuẩn.

Bơm tiêm 20ml.

Bơm tiêm 5ml và xylocain 1%.

Người bệnh

Được giải thích kỹ để phôi hợp với thầy thuốc.

Nằm ngửa, đầu hơi thấp so với chân.

Hai chần giạng ngửa ra ngoài.

Nơi thực hiện

Khoa hồi sức cấp cứu, buồng vô khuẩn.

Các bước tiến hành

Sát khuẩn: vùng tam giác Scarpa và rộng ra xung quanh lên trên bẹn.

Gây tê tại chỗ.

Địa điểm chọc kim: dưới cung đùi 2cm, phía trong động mạch đùi 5mm. Kim hướng lên trên, theo một góc 30° với mặt da về phía rốn. Chọc sâu 5 - 10mm, đôi khi 20 - 30mm ở người béo.

Luồn dây dẫn: khi máu trào ra, tháo bơm tiêm luồn dây dẫn đầu tù vào kim. Kéo kim ra nhưng vẫn giữ dây dẫn khỏi ra theo.

Rạch nơi chọc kim bằng dao mổ 2mm. Luồn ống Desilet vào lốp áo ngoài dây dẫn.

Đẩy ống Desilet vào lòng tĩnh mạch, vừa đẩy vừa xoay quanh dây dẫn. Rút dây dẫn ra, lấy ngón tay bịt chặt đầu Desilet cho không khí khỏi vào.

Luồn ống thông vào Desilet, rút lớp áo ngoài (đã tách ra), rút Desilet. Cố định ống thông.

Theo dõi và xử trí biến chứng

Chảy máu do rách mạch máu, tụ máu chỗ chọc: băng ép.

Huyết khôi tĩnh mạch: heparin, urokinase bơm tại chỗ.

Nhiễm khuẩn.


Bài xem nhiều nhất

Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ

Ở trẻ em cần pha loãng (1/10) ốhg lml (lmg) + 9 ml nước cất = lOml sau đó tiêm 0,lml/kg), không quá 0,3mg. (Liều: adrenalin 0,01mg/kg cho cả trẻ em lẫn người lốn).

Phù phổi cấp huyết động và phù phổi cấp tổn thương

Vì các mao mạch phổi không có cơ tròn trước mao mạch nên áp lực chênh lệch giữa động mạch phổi và mao mạch phổi phản ánh áp lực nhĩ trái.

Chẩn đoán và xử trí hôn mê

Mỗi phút tổ chức não cần 3,5ml/100g oxy và glucose. Dự trữ đường ở não tiếp tục cung cấp đường cho não 2 phút sau khi ngừng tuần hoàn, nhưng ý thức mất đi ngay sau 8 - 10 giây. Khi cung lượng máu lên não giảm xuống còn 25ml (bình thường là 75ml/100g chất xám) thì điện não có nhiều sóng chậm và khi còn 15ml thì điện não là đường thẳng.

Cơn tăng huyết áp

Cơn tăng huyết áp là một tình trạng tăng vọt huyết áp làm cho số tối thiểu tăng quá 120 mmHg hoặc sô tối đa tăng thêm lên 30 - 40 mmHg.

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)

Điểm độc đáo của hội chứng này là xuất hiện đột ngột tiếp sau một bệnh lý ở phổi hay nơi khác trên một người không có bệnh phổi trước đó. Mặc dù có những điều kiện và phương tiện đê chẩn đoán nhanh cũng như điều trị tốt, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao (10 -  0%).

Chọc hút dẫn lưu dịch màng phổi

Nối ống dẫn lưu với ống dẫn của máy hút hoặc ống nối. cố định ổng dẫn lưu vào da bằng một đường chỉ. Đặt một vòng chỉ chờ qua ống dẫn lưu để thắt lại khi rút ống ra.

Ngộ độc thuốc diệt cỏ Paraquat

Các tế bào lớp thượng bì phế nang type I và type II tích luỹ chọn lọc paraquat. Sự tích luỹ này phụ thuộc thời gian và năng lượng. Paraquat và các chất diamin và polyamin nội sinh như putrescin và spermidin đều có các nguyên tử N bậc 4 có khoảng cách từ 0,6 - 0,7 nanomet, nên được hệ thống vận chuyển màng tích cực đưa nhanh vào phổi.

Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu ở người đái tháo đường

Biết được là hôn mê tăng thẩm thấu thường là chậm phải nghĩ đến nó mới phát hiện được. Một nguyên tắc phải theo là xét nghiệm đường huyết cho tất cả bệnh nhân hôn mê, rối loạn ý thức đặc biệt là có dấu hiệu mất nước.

Ngộ độc Paracetamol

Paracetamol được chuyển hoá ở gan. Liều cao gây độc cho gan do sản xuâ't ra các hoá chất trung gian ở phạm vi các cytochrom P450. Hoá chất độc chủ yếu là N - acetyl - p.benzoquinone imin. Paracetamol còn gây độc cho thận, cơ tim, tuỵ và cơ vân.

Ong đốt

Chỉ có ong cái là có ngòi. Ong nhà và ong bầu có ngòi dài 2 - 3 mm có gai, khi đốt để lại ngòi trong da. Đốt xong ong sẽ chết. Ong vò vẽ và ong bắp cày có ngòi ngắn nhẵn không có gai, đốt xong, rút ra dễ. Do đó chúng có thể đốt đi đốt lại nhiều lần.

Ngạt nước (đuối nước)

Ngất trắng giống như tình trạng sốc nặng không gây ngừng tim ngay nhưng cũng có thể làm cho ngừng thở. Nếu may mắn lúc này nạn nhân được vớt lên và được cấp cứu ngay thì dễ có khả năng hồi phục vì phổi chưa bị sặc nước.

Chẩn đoán và xử trí tăng áp lực nội sọ

Thể tích não có thể tăng mà chưa có tăng áp lực nội sọ vì có các cơ chế thích ứng (nưốc não tuỷ thoát về phía tuỷ sông, tăng thấm qua mạng nhện vào xoang tĩnh mạch dọc trên, giảm thể tích máu trong não).

Ngộ độc thức ăn

Vi khuẩn có độc tố phát triển trong thực phẩm: tụ cầu, lỵ trực trùng, phẩy khuẩn tả. Vi khuẩn clostridium botulinum yếm khí sống trong thịt hộp, xúc sích khô, thịt khô. Các virus: adeno virus, rotavirus, norwalk virus.

Sốc giảm thể tích máu

Bên cạnh những thay đổi về huyết động, còn có các thay đổi về vận chuyển các dịch và nước trong lòng mạch và khoảng kẽ. Khi mới đầu có giảm thể tích máu, áp lực keo huyết tương tăng lên, làm cho nước từ tế bào ra khoảng kẽ.

Bệnh mạch vành và thiếu máu cơ tim

Cơn đau thắt ngực không ổn định, thường xuất hiện sau gắng sức nhỏ, nhưng đôi khi không do gắng sức, kéo dài lâu hơn, hàng chục phút, các xét nghiệm có độ đặc hiệu thấp và độ nhậy thấp.

Xem theo danh mục