Phòng bệnh ung thư cấp hai (phát hiện sớm ung thư)

Ngày: 7 - 6 - 2016

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn.

Hiệu quả phòng bệnh chỉ đạt được ở một số ít các bệnh ác tính không tương xứng với hiểu biết ngày nay về nguyên nhân gây bệnh ung thư. Ngoài việc phòng bệnh cấp một và có thể là hoá chất phòng bệnh thì tác động hiệu quả nhất của người thày thuốc là chẩn đoán sớm. Sử dụng sàng lọc để phát hiện sớm bệnh ung thư ở những người không có triệu chứng. Phát hiện bệnh ung thư có thể qua quan sát (như da, miệng, bộ phận sinh dục ngoài, cổ tử cung), qua sờ nắn (như vú, miệng, tuyến giáp, trực tràng và hậu môn, tuyến tiền liệt, tinh hoàn, buồng trứng, và tử cung), và qua các xét nghiệm (như phiến đồ âm đạo, tìm máu ẩn trong phân, nội soi đại tràng sigma, chụp tuyến vú). Hiệu quả của việc sàng lọc đòi hỏi không những xét nghiệm phát hiện sớm các bệnh ung thư mà còn điều trị ở giai đoạn sớm của bệnh phải có hiệu quả kinh tế. Mặc dù việc chọn thời điểm để làm các xét nghiệm này còn đang tranh cãi nhưng chỉ riêng việc sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung cũng được dự tính là làm giảm 3% số ca tử vong do bệnh ung thư. Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn. Tuy nhiên, đối vối vài khối u (như ung thư phổi hoặc ung thư buồng trứng) di căn xa xảy ra thậm chí khi u nguyên phát còn ở phụ nữ trên 18 tuổi có hoạt động tình dục. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân hàng năm và sàng lọc đều đặn bằng nội soi đại tràng sigma đối với những người trên 50 tuổi làm giảm tỉ lệ tử vong của bệnh ung thư đại - trực tràng. Ngoài ra, việc lấy bỏ các polyp được phát hiện qua nội soi đại tràng làm giảm nguy cơ phát triển các bệnh ung thư đại - trực tràng. Không may là việc sàng lọc ung thư buồng trứng bằng các chất chỉ điểm trong huyết thanh (như CA125), siêu âm qua đường âm đạo hay khám vùng chậu hông không làm giảm tỉ lệ tử vong của bệnh này. Một thử nghiệm đa trung tâm đang được tiến, hành để đánh giá xem liệu một chương trình sàng lọc bằng nhiều phương pháp có hiệu quả hơn là tiến hành riêng rẽ từng phương pháp hay không. Sàng lọc ung thư tiền liệt tuyến được bàn tới ở phần các chất chỉ điểm khối u.


Bài xem nhiều nhất

Các hội chứng cận ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ.

Đánh giá đáp ứng điều trị của khối u ung thư

Chụp cộng hưởng từ hiện nay là phương pháp không xâm nhập tốt nhất để đánh giá các u hố sau của não, u tủy sống, chèn ép tủy sống, các bệnh lý chậu hông, nhưng chụp cắt lớp CT cũng hiệu dụng và có thể có các thông tin bổ sung.

Độc tính và thay đổi liều thuốc hóa chất điều trị ung thư

Giảm tiểu cầu cũng là vấn đề khi điều trị hóa chất kéo dài liều cao, và có thể làm hạn chế điều trị. Một số thuốc hiện nay đang nghiên cứu có thể giải quyết vấn đề này.

Một số biến chứng trong ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Tràn dịch tái phát có thể điều trị bằng dẫn lưu và gây dính. Tiêm hóa chất hoặc một thuốc gây dính vào khoang tràn dịch kèm lidocain để đỡ đau.

Cấp cứu biến chứng chèn ép tủy sống trong ung thư

Chẩn đoán nhanh chóng và điều trị sớm thương tổn chèn ép tủy là quan trọng. Các thương tổn thần kinh lúc chẩn đoán đa phần là không hồi phục, mặc dù điều trị sớm các triệu chứng thần kinh có thể đạt được hồi phục dần.

Cấp cứu hội chứng Carcinoid ác tính

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu.

Cấp cứu biến chứng tăng Calci máu trong ung thư

Triệu chứng của tăng calci máu gồm nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng.

Xếp giai đoạn bệnh ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Xếp loại TNM được sử dụng trên lâm sàng để xác định sự lan rộng của bệnh ung thư trước khị bắt đầu điều trị. Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận.

Tỷ lệ mắc bệnh và nguyên nhân ung thư

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một.

Phòng bệnh ung thư cấp một

Hoá chất phòng bệnh là một lĩnh vực mới đầy hấp dẫn trong nghiên cứu ung thư, tập trung vào phòng bệnh ung thư bằng sử dụng các chất hoá học can thiệp vào nhiều giai đoạn phát sinh ung thư.

Cấp cứu tăng acid uric máu và bệnh thận urate cấp trong ung thư

Tăng acid uric cấp xuất hiện như là một biến chứng của quá trình tăng sinh ác tính nhanh chóng, hoặc do điều trị làm tan u mạnh trong các ung thư máu như bệnh bạch cầu, u lympho, đa u tủy.

Hóa trị liệu bổ trợ cho các vi di căn ung thư nguyên phát

Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ.

Điều trị ung thư nguyên phát bằng phẫu thuật và tia xạ

Hiện nay phẫu thuật có hiệu quả cả về chẩn đoán và điều trị, vì nó cho phép đánh giá giai đoạn mô bệnh học của sự phát triển và xâm lấn tại chỗ cũng như khả năng loại bỏ khối u nguyên phát.

Phòng bệnh ung thư cấp hai (phát hiện sớm ung thư)

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn.