Tỷ lệ mắc bệnh và nguyên nhân ung thư

Ngày: 6 - 6 - 2016

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một.

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Mỹ, chiếm gần 25% số tử vong trong năm 1990. Hàng năm ở Mỹ có 1,2 triệu ca ung thư mới và 500.000 ca tử vong. Thêm vào đó là 700.000 ca ung thư da không phải là ung thư hắc tố và 100.000 ca ung thư biểu mô tại chỗ được chẩn đoán hàng năm.

Mặc dù nguyên nhân của hầu hết các bệnh ung thư vẫn còn chưa rõ, nhưng nghiên cứu gần đây đã có những bước tiến đáng kể trong việc tìm hiểu cơ sở phân tử của sự tăng sinh ác tính của tế bào. Những đột biến trong các chuỗi ADN dẫn đến sự khuyếch đại hay kích thích "các gen ung thư" hay sự mất đi của "gen ức chế khối u" hoặc cả hai quá trinh đều liên quan đến sự tăng sinh bất thường và biến đổi ác tính. Những gen ung thư là những gen bình thường mã hoá cho các thụ cảm phát triển tế bào, những yếu tố phát triển hoặc những yếu tố của cơ chế tăng sinh, tế bào ung thư. Các gen ức chế khối u mã hoá để điều hoà protein mà thường để ức chế sự tăng tăng sinh tế bào. Hậu quả của quá trình này và những đột biến khác có thể do tiếp xúc với môi trường, tính nhạy cảm di truyền, các tác nhân nhiễm khuẩn và những tác nhân không rõ khác là quá trình hình thành bệnh ung thư. Hầu hết các khối u đều có một hay vài bất thường nhiễm sắc thể như: mất đoạn, đảo đoạn, chuyển đoạn hay nhân đoạn. Mặc dù nhiều bất thường này biểu hiện không đặc hiệu, nhưng một số thương tổn của gen có liên quan chặt chẽ với những bệnh ác tính đặc hiệu. Xác định sự bất thường của nhiễm sắc thể có thể giúp cho việc chẩn đoán cũng như đánh giá tiên lượng bệnh, ví dụ, nhận thấy có một sự chuyển đoạn đặc hiệu trong bệnh lympho, Burkitt, trong đó gen C - myc được hoạt hoá do sự chuyển đoạn từ nhiễm sắc thể 8 đến nhiễm sắc thể 14. Một số lượng lớn thay đổi gen (mất allen) trong bệnh ung thư đại tràng có tiên lượng xấu.

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một. Tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư có thể gây tỷ lệ mắc ung thư cao hơn. Khó có thể chỉ ra các chất gây ung thư ở từng cá nhân vì thời gian tiềm ẩn kéo dài và mức độ, bản chất của chất tiếp xúc vẫn chưa rõ ràng và chưa được nghiên cứu đầy đủ. Phân loại chung của các chất gây ung thư từ môi trường bao gồm các yếu tố hoá học như benzen, amiăng, những virus gây ung thư như papilovirus ở người và virus Epstein - Barr, các yếu tố vật lý như tiếp xúc với ion phóng xạ và tia cực tím. Có sự tiềm ẩn di truyền các bệnh ung thư mà có liên quan đến các thay đổi phân tử đặc hiệu trong một gen (như u nguyên bào võng mạc và bệnh polyp gia đình di truyền). Việc xác định gen bất thường (bệnh polyp adenoma, APC) gây bệnh polyp gia đình cùng với sự phát triển kỹ thuật hiện đại về phân tích gen sẽ giúp cho bác sỹ chẩn đoán chính xác và có lời khuyên cho bệnh nhân và cho gia đỉnh họ. Mặc dù bệnh polyp gia đình là một hội chứng hiếm gặp, nhưng những đột biến ở gen gây bệnh cũng có thể tìm thấy ở hơn 60% bệnh nhân ung thư đại tràng cũng như ở một số bệnh nhân đa polyp. Sự phân tích đột biến gây bệnh của gen APC có liên quan với những nghiên cứu dịch tễ học có thể giúp cho việc xác định những yếu tố môi trường hoặc lối sống làm tăng nguy cơ gây bệnh ung thư. Nghiên cứu dịch tễ học phân tử đã được sử dụng xác định các chất hoá học có thể là yếu tố gây bệnh thuộc nhóm đột biến gen Ras có liên quan đến bệnh bạch cầu cấp thể tuỷ. Những nghiên cứu này sẽ giúp cho xác định mục tiêu của các biện pháp phòng bệnh.

Những "gen có khả năng gây ung thư" khác hiện nay đang được xác định ở những gia đình có nhiều người cùng bị một bệnh ung thư. Đột biến ở gen BRCA nằm trên nhiễm sắc thể 17 làm tăng nguy cơ đáng kể ung thư vú và ung thư buồng trứng. Bằng cách sử dụng chất đánh dấu gen, ngày nay người ta có thể xác định những người mang bệnh trong gia đình và có chỉ định xét nghiệm gen thích hợp cũng như tư vấn về di truyền thích hợp. Nhiễm HIV có liên quan đến tăng nguy cơ bị bệnh ung thư, đặc biệt là bệnh u lympho không Hodgkin, bệnh Hodgkin, Sarcom Kaposi, bệnh ung thư cổ tử cung và ung thư hậu môn. Papilovirus ở người cũng có liên quan đến ung thư cổ tử cung. Một số typ virus này có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh cao hay thấp.


Bài xem nhiều nhất

Các hội chứng cận ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ.

Đánh giá đáp ứng điều trị của khối u ung thư

Chụp cộng hưởng từ hiện nay là phương pháp không xâm nhập tốt nhất để đánh giá các u hố sau của não, u tủy sống, chèn ép tủy sống, các bệnh lý chậu hông, nhưng chụp cắt lớp CT cũng hiệu dụng và có thể có các thông tin bổ sung.

Độc tính và thay đổi liều thuốc hóa chất điều trị ung thư

Giảm tiểu cầu cũng là vấn đề khi điều trị hóa chất kéo dài liều cao, và có thể làm hạn chế điều trị. Một số thuốc hiện nay đang nghiên cứu có thể giải quyết vấn đề này.

Một số biến chứng trong ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Tràn dịch tái phát có thể điều trị bằng dẫn lưu và gây dính. Tiêm hóa chất hoặc một thuốc gây dính vào khoang tràn dịch kèm lidocain để đỡ đau.

Cấp cứu biến chứng chèn ép tủy sống trong ung thư

Chẩn đoán nhanh chóng và điều trị sớm thương tổn chèn ép tủy là quan trọng. Các thương tổn thần kinh lúc chẩn đoán đa phần là không hồi phục, mặc dù điều trị sớm các triệu chứng thần kinh có thể đạt được hồi phục dần.

Cấp cứu hội chứng Carcinoid ác tính

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu.

Cấp cứu biến chứng tăng Calci máu trong ung thư

Triệu chứng của tăng calci máu gồm nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng.

Xếp giai đoạn bệnh ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Xếp loại TNM được sử dụng trên lâm sàng để xác định sự lan rộng của bệnh ung thư trước khị bắt đầu điều trị. Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận.

Tỷ lệ mắc bệnh và nguyên nhân ung thư

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một.

Phòng bệnh ung thư cấp một

Hoá chất phòng bệnh là một lĩnh vực mới đầy hấp dẫn trong nghiên cứu ung thư, tập trung vào phòng bệnh ung thư bằng sử dụng các chất hoá học can thiệp vào nhiều giai đoạn phát sinh ung thư.

Cấp cứu tăng acid uric máu và bệnh thận urate cấp trong ung thư

Tăng acid uric cấp xuất hiện như là một biến chứng của quá trình tăng sinh ác tính nhanh chóng, hoặc do điều trị làm tan u mạnh trong các ung thư máu như bệnh bạch cầu, u lympho, đa u tủy.

Hóa trị liệu bổ trợ cho các vi di căn ung thư nguyên phát

Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ.

Điều trị ung thư nguyên phát bằng phẫu thuật và tia xạ

Hiện nay phẫu thuật có hiệu quả cả về chẩn đoán và điều trị, vì nó cho phép đánh giá giai đoạn mô bệnh học của sự phát triển và xâm lấn tại chỗ cũng như khả năng loại bỏ khối u nguyên phát.

Phòng bệnh ung thư cấp hai (phát hiện sớm ung thư)

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn.