Những virus ái tính với tế bào lympho T ở người (HTLV)

Ngày: 5 - 3 - 2016

Corticosteroid điều trị thành công bệnh tủy sống do HTLV gây ra. Những thuốc kháng virus không thấy có tác dụng rõ ràng trong điều trị bệnh lý tủy sống do HTVL và hoặc ATL

Retrovirus bao gồm cả virus HIV tiêu tế bào lympho và các virus gây u có ái tính với tế bào lympho, virus gây bệnh bạch cầu lympho T typ 1 và 2 lở người (HTLV- 1 và 2). Sự phân lập được HTLV- 1 từ nam giới trẻ: tuổi bị u lympho bào T/ bệnh bạch cầu (adult T cell lymphoma/leukemia - ALT) có liên quan với virus đã được xác định ở những vùng dịch tễ cao (như. miền Nam Nhật Bản) và những vùng khác bao gồm: Châu Phi ở vùng phía dưới Sahara, vùng Đông- Nam Mỹ. Những đặc điểm lâm sàng hay gặp của bệnh ALT là hạch to ở nhiều nơi, những tổn thương dát sẩn trên da có thể tiến triển thành chứng đỏ da, to các cơ quan, tiêu xương và đôi khi có tăng calci máu. Bệnh nhân dễ bị nấm da, giun lươn và ở bệnh nhân AIDS dễ bị nhiễm trùng cơ hội (viêm phổi, nhiễm virus cự bào, nhiễm cầu khuẩn). Chẩn đoán cần xác định đựợc kháng thể HTLV. Việc chứng minh chắc chắn sự hòa nhập DNA của tiền virus đơn dòng vào tế bào khối u là rất có giá trị.

HTLV- 1 cũng gây ra bệnh tủy sống (liệt cứng nhẹ chi dưới vùng nhiệt đới). Bệnh đặc trưng bằng yếu vận động tiến triển với liệt cứng nhẹ hai chân hoặc liệt hai chân với phản xạ gân xương tăng. Cũng có thể có rốì loạn cảm giác và tiểu tiện không tự chủ. Bệnh có thể giống như bệnh xơ hóa nhiều ổ nhưng không thuyên giảm. Tổn thương dây thần kinh sọ thường hiếm, hoạt động nhận thức của bệnh nhân không bị ảnh hưởng. Bệnh chỉ xuất hiện ở dưới 1% nhựng người bị nhiễm virus.

HTLV- 2 lúc đầu được cho rằng gây ra bệnh bạch cầu, có các tế bào tạo thành các múi, nhưng điều này chưa được xác định. Sự dương tính trong huyết thanh của HTLV- 2 hay gặp ở một số người dân bản xứ Mỹ. HTLV- 2 gây nhiễm chủ yếu ở tế bào CD8 còn HTLV- 1 gây nhiễm chủ yếu tế bào CD4. Vai trò đặc biệt của HTLV- 2 trong quá trình gây bệnh vẫn còn phải nghiên cứu.

Xử trí ATL giống như với u lympho không Hodgkin, bao gồm phối hợp hóa trị liệu và chiếu tia xạ vào những vị trí đặc biệt (những tổn thương xương ở vị trí chịu trọng lực, những khối cạnh cột sống và những tổn thương trong não). Corticosteroid điều trị thành công bệnh tủy sống do HTLV gây ra. Những thuốc kháng virus không thấy có tác dụng rõ ràng trong điều trị bệnh lý tủy sống do HTVL và hoặc ATL.

Xét nghiệm máu tìm HTLV- 1 được yêu cầu ở Mỹ, vì truyền máu được coi như một cách lây bệnh, cùng với đường tình dục và có thể lây theo các đường khác và tỷ lệ dương tính của huyết thanh tăng dần theo lứa tuổi. Từ 10 - 40% những người mang HTLV - 2 không có phản ứng chéo với HTLV - 1 bằng xét nghiệm hiện nay và những phương: pháp xét nghiệm mới giúp cho chẩn đoán đang được phát triển.


Bài xem nhiều nhất

Các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí

Dưới đây sẽ điểm qua các bệnh nhiễm khuẩn chủ yếu do các vi khuẩn kỵ khí gây ra. Điều trị chung cho các bệnh này bao gồm mổ thăm dò ngoại khoa, cắt lọc đủ rộng và dùng kháng sinh.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm do tụ cầu vàng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm da do tụ cầu vàng thường khởi đầu quanh một hay nhiều ổ viêm nang lông, và có thể khu trú để tạo thành nhọt hoặc lan rộng đến vùng da lân cận và tới các mô sâu dưới da tạo thành ung nhọt lớn.

Ỉa chảy nhiễm khuẩn cấp tính (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị chủ yếu là bù nước và điện giải, trong một vài trường hợp có thể phải điều trị sốc mất nước và hỗ trợ hô hấp. Nói chung, phân lớn các trường hợp ỉa chảy cấp tính đều tự khỏi mà không cần phải điều trị đặc hiệu.

Thủy đậu (varicella) và zona (herpes zoster) (chẩn đoán và điều trị)

Sốt và khó chịu thường nhẹ ở trẻ em và nặng hơn ở người lớn. Các tổn thương phỏng nước nhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết loét nhỏ, thường xuất hiện đầu tiên ở miệng và họng.

Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Tăng men gan và bilirubin là hay gặp. Nồng độ cryoglobulin thấp xuất hiện tới 90% các bệnh nhân. Trong trường hợp có tổn thương hệ thần kinh trung ương dịch não tủy cho thấy tăng áp lực, các tế bào lympho bất thường và protein.

Hoại tử sinh hơi (hoại tử do trực khuẩn clostridium) (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thường khởi phát đột ngột, đau tăng nhanh tại vùng bị bệnh, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, sốt không tương xứng với mức độ nặng. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuốỉ, thường bệnh nhân bị kiệt quệ, li bì, mê sảng và đi vào hôn mê.

Bệnh do rickettsia (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả các rickettsia đều bị ức chế bởi tetracyclin hoặc chloramphenicol. Tất cả các trường hợp nhiễm rickettsia giai đoạn đầu đáp ứng ở một vài mức độ với những thuốc này.

Bệnh do Brucella (chẩn đoán và điều trị)

Khởi phát thường đột ngột: sốt, rét run, toát mồ hôi nhưng thông thường chỉ khởi phát âm ỉ. Bệnh nhân đến khám sau nhiều tuần có mệt mỏi, sút cân, sốt nhẹ, ra mồ hôi, mệt nhanh dù làm việc nhẹ.

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.

Nhiễm Adenovirus (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân ghép gan bị nhiễm virus có xu hướng phát triển viêm gan (typ 5), còn những người ghép tủy xương và ghép thận có xu hướng viêm phổi phát triển hoặc viêm bàng quang xuất huyết.

Sốt hồi quy (chẩn đoán và điều trị)

Vi khuẩn gây bệnh là một loại xoắn khuẩn, Borrelia recurrentis, mặc dù một số loại vi khuẩn chưa được nghiên cứu kỹ có thể gây ra bệnh tương tự. Xoắn khuẩn có thể lây truyền qua trứng từ thế hệ này của ve bọ sang thế hệ khác.

Định hướng chẩn đoán và xử trí sốt không rõ nguyên nhân

Bệnh Still, lupus ban đỏ hệ thống, nhiễm cryoglobulin máu, viêm nút đa động mạch là các nguyên nhân tự miễn thường gặp nhất gây sốt không rõ nguyên nhân.

Viêm phổi do phế cầu (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc có các bệnh khác kèm theo cần điều trị nội trú bằng thuốc tiêm, penicillin G, 2 triệu đơn vị môi lần, ngày 6 lần.

Viêm màng não do não mô cầu (chẩn đoán và điều trị)

Sốt cao, rét run, đau đầu, đau lưng, đau bụng, đau đầu chi, buồn nôn và nôn đều có thể gặp. Khi bệnh nặng, bệnh nhân nhanh chóng bị lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.

Các bệnh do lậu cầu khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ở nam giới, lúc đầu có đái nóng, và dịch trắng hoặc ngà ở ngay đầu. Vài ba ngày sau, đái đau rõ dần và dịch tiết quy đầu vàng sẫm hơn đặc như kem, nhiều và có thể lẫn máu.

Xem theo danh mục