Viêm cơ tim cấp nhiễm trùng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2 - 11 - 2016

Bệnh nhân có thể có dấu hiệu trong vài ngày đến một vài tuần sau đợt sốt cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hồ hấp hoặc có suy tim mà không có triệu chứng trước đó.


Viêm cơ tim cấp gây ra viêm ổ hoặc lan toả. Hầu hết các trường hợp là do nhiễm trùng như nhiễm virus, vi khuẩn, rickettsia, nấm hoặc các ký sinh trùng, nhưng các độc tố, các thuốc và các phản ứng miễn dịch cũng có thể gây viêm cơ tim.

Những điểm cơ bản trong chẩn đoán

Thường tiếp sau nhiễm khuẩn hô hấp.

Có thể biểu hiện bằng đau ngực (viêm màng phổi hoặc không đặc hiệu), các dấu hiệu của suy tim, rối loạn nhịp tim

Điện tâm đồ có thể cho thấy nhịp nhanh xoang, những thay đổi tái cực không đặc hiệu, rối loạn dẫn truyền trong thất.

Siêu âm cho thấy tim to và rối loạn chức năng co bóp.

Sinh thiết cơ tim có thể cho thấy một kiểu viêm đặc hiệu.

Nhận định chung

Viêm cơ tim do virus là hình thái thường gặp nhất và thường do coxsackie virus gây ra, nhưng một vật chủ của những mắm bệnh khác cũng có vai trò. Viêm cơ tim do rickettsia xảy ra cùng với bệnh sốt rickettsia, sốt vùng núi Rocky, sốt Q. Viêm cơ tiin bạch hầu là do độc tố gây ra và thường biểu hiện bằng rối loạn dẫn truyền cũng như suy tim.

Bệnh Chagas do động vật đơn bào trypanosoma cruzi gây ra, là một hỉnh thái viêm cơ thường gặp ở Trung và Nam Phi. Quá trình viêm cấp tính có thể xảy ra, những những biều hiện lâm sàng chủ yếu xuất hiện sau một giai đoạn tiềm tàng hơn 10 ngày, ở giai đoạn này, các bệnh nhân có biểu hiện như bệnh cơ tim, suy tim ứ trệ, rối loạn dẫn truyền và chết đột ngột. Tổn thương dạ dày ruột kết hợp (thực quản to vấ đại tràng to) rất thường gặp. Bệnh do toxoplasma gây viêm cơ thì thường không có triệu chứng nhưng có thể dẫn tới suy tim. Trong số nhiễm ký sinh trùng, bệnh giun xoắn là nguyên nhân thường gặp nhất của tổn thương tim. Khả năng virus HIV gây viêm cơ tim hiện nay đã được ghi nhận, mặc dù tỷ lệ của biến chứng này còn chưa được biết và nó là nguyên nhân ít gặp của bệnh tử vong trong AIDS. Hơn nữa viêm cơ tim do các nhiễm khuẩn khác thường thấy hơn ở các bệnh nhân bị AIDS.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Bệnh nhân có thể có dấu hiệu trong vài ngày đến một vài tuần sau đợt sốt cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hồ hấp hoặc có suy tim mà không có triệu chứng trước đó. Thường có đau ngực do màng phổi, màng tim. Các triệu chứng toàn thân không đặc hiệu cũng thường có. Thăm khám thấy nhịp tim nhanh, nhịp ngựa phi và các dấu hiệu khác của suy tim hoặc rối loạn dẫn truyền.

Điện tâm đồ và phim X quang lồng ngực

Những thay đổi không đặc hiệu của đoạn ST - T và rối loạn dẫn truyền cũng thường gặp. Ngoại tâm thu thất có thể là dấu hiệu đầu tiên và là dấu hiệu lâm sàng duy nhất. Phim X quang ngực thường không đặc hiệu.

Các xét nghiệm chẩn đoán

Siêu âm cho thấy là cách tốt nhất để dánh giá chức nâng tim và có thể loại trừ nhiều bệnh lý khác. Chụp nhấp nháy bằng Gallium 67 đã được báo cáo có thể mang lại các dữ liệu về tim trong viêm cơ tim cấp hoặc bán cấp. Chuẩn độ virus huyết thanh là đối chứng và các xét nghiệm huyết thanh học đối với các tác nhân gây bệnh khác có thể cho thấy nguyên nhân.

Sinh thiết cơ tim

Xét nghiệm giải phẫu bệnh có thể cho thấy phản ứng tế bào viêm bao quanh và hoại tử đốm. Hình ảnh này xác định một giai đoạn viêm "hoạt động" và có thể đã tồn tại từ nhiều tháng.

Điều trị và tiên lượng

Điều trị kháng khuẩn đặc hiệu được chỉ định nếu như có thể phát hiện được tác nhân gây bệnh. Các nghiên cứu quan sát đã chứng tỏ rằng liệu pháp miễn dịch bằng corticosteroid và các thuốc khác có thể làm cải thiện được kết quả khi quá trình bệnh là cấp tính (< 6 tháng) và sinh thiết cho thấy quá trình viêm đang xảy ra. Tuy nhiên, các thử nghiệm có đối chứng đã không thấy kết quả dương tính, chính vì vậy giá trị sinh thiết của cơ tim thường quy ở các bệnh nhận có biểu hiện một bệnh cảnh viêm cơ tim cấp là không chắc chắn. Điều trị ức chế miễn dịch theo lối kinh nghiệm mà không có xác nhận của tế bào học là không xác đáng. Mặt khác việc điều trị phải trực tiếp hướng tới các biểu hiện suy tim và các rối loạn nhịp.

Nhiều trường hợp khỏi tự phát nhưng nhiều trường hợp khác ohức năng tim xấu dần và có thể thành bệnh cơ tim dãn. Những tài liệụ mới đây sử dụng các kỹ thuật sinh thiết phân tử chứng tỏ rằng nhiều trường hợp bệnh cơ tim dãn tự phát có thể là giai đoạn cuối của bệnh cơ tim do virus.


Bài xem nhiều nhất

Điều trị tăng Cholesterol LDL (mỡ máu)

Các chế độ ăn làm giảm cholesterol cũng có thể có ảnh hưởng biến thiên trên các phân đoạn lipid. Vi dụ, các chế độ ăn có chất béo toàn phần rất thấp hoặc có chất béo bão hòa rất thấp có thể làm hạ thấp cholesterol HDL nhiều bằng cholesterol LDL.

Lipid máu và các bất thường về lipid (mỡ máu)

Hai loại lipid chính trong máu là cholesterol và triglycerid. Chúng được mang trong các phân tử lipoprotein và các túi hình cầu cũng chứa cả các protein được biết đến như là các apoprotein.

Triglycerid máu cao (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị cơ bản với chứng tăng triglycerid là chế độ ăn, tránh dùng rượu và thức ăn béo, hạn chế calo. Sự kiểm soát các nguyên nhân thứ phát gây tăng nồng độ triglycerid cũng có thể hữu ích.

Các triệu chứng và dấu hiệu bệnh tim (chẩn đoán bệnh tim mạch)

Việc nhận thấy nhịp đập của tim có thể là hiện tượng bình thường hoặc có thể phàn ánh tăng cung lượng tim hoặc tăng cung lượng nhát bóp tim ở những bệnh nhân với nhiều tình trạng bệnh ngoài tim.

Đau thắt ngực không ổn định (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các bệnh nhân bị đau thắt ngực không ổn định sẽ có những thay đổi điện tâm đồ trong cơn đau, thường thấy sự chênh xuống của đoạn ST hoặc sóng T dẹt hoặc đảo ngược nhưng đôi khi ST lại chênh lên.

Tăng huyết áp (chẩn đoán và điều trị)

Tăng huyết áp thoáng qua do sự xúc động hoặc lo sợ gây ra không nên chẩn đoán là bệnh tăng huyết áp nhưng có thể chỉ ra một xu hướng tiến triển của nó.

Các xét nghiệm và thủ thuật chẩn đoán bệnh tim mạch

Các thủ thuật chẩn đoán không chảy máu đã ngày càng tăng về số lượng và ứng dụng trong chẩn đoán. Tuy nhiên chúng thường bị lạm dụng quá mức.

Hở van hai lá (chẩn đoán và điều trị)

Hở van hai lá có thể do nhiều quá trình gây ra. Bệnh thấp kết hợp với van dày và giảm di động của lá van và thường có bệnh cảnh hỗn hợp của hẹp và hở.

Hẹp hở van ba lá (chẩn đoán và điều trị)

Hở van ba lá thứ phát do bệnh van hai lá nặng hoặc các tổn thương tim trái khác có thể thoái lui khi bệnh cơ sở được điều trị. Khi cần phải phẫu thuật, sửa van hoặc tạo hình van ba lá là thích hợp hơn thay van.

Bệnh mạch vành (bệnh xơ cứng động mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ)

Các quá trinh này tiến triển chậm qua nhiều thập kỷ trong hầu hết các trường hợp. Trái lại, lịch sử tự nhiên của mảng xơ vữa chín khó có thể dự đoán được.

Hẹp eo động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Huyết áp sẽ tăng ở động mạch chủ và các nhánh của nó ở phần trước chỗ hẹp còn huyết áp lại giảm ở phần sau chỗ hẹp. Tuần hoàn bàng hệ phát triển qua các động mạch liên sườn và các nhánh của động mạch dưới đòn.

Block nhĩ thất (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân bị blốc tim hoàn toàn từng cơn hoặc blốc dưới nút hoàn toàn mạn tính cần phải tạo nhịp vĩnh viễn, và tạo nhịp tạm thời được chỉ định nếu tạo nhịp cấy chưa được tiến hành ngay.

Đánh giá ngất (chẩn đoán và điều trị)

Ghi lại các kết quả và theo dõi điện tâm đồ liên tục truyền qua điện thoại có thể giúp cho việc chẩn đoán ở những bệnh nhân có thoáng ngất từng cơn.

Đau thắt ngực (chẩn đoán và điều trị)

Đau thắt ngực thường do bệnh xơ vữa các động mạch vành gây ra. Co thắt động mạch vành cũng có thể xẩy ra ở vị trí tổn thương hoặc hiếm hơn, ở những động mạch hoàn toàn bình thường.

Nhồi máu cơ tim cấp (chẩn đoán và điều trị)

Kích thước và vị trí của ổ nhồi máu quyết định bệnh cảnh lâm sàng cấp, các biến chứng sớm và tiên lượng lâu dài. Các dấu hiệu huyết động có liên quan trực tiếp tới mức độ lan rộng của những lần nhồi máu trước.

Thông liên nhĩ (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân với shunt nhỏ có thể có cuộc sống bình thường, các shunt lớn sẽ gây ra biến chứng ở tuổi bốn mươi. Tăng sức cản mạch máu phổi thứ phát dẫn tới tăng huyết áp động mạch phổi hiếm khi xảy ra ở trẻ em.

Hở van động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Hở van động mạch chủ đã trở nên ít gặp hơn từ thời đại kháng sinh, nhưng các nguyên nhân không do thấp lại thường gặp hơn, và là nguyên nhân chủ yếu gây hở van động mạch chủ đơn độc.

Hẹp van hai lá (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết tất cả các bệnh nhân hẹp van hai lá đều có bệnh tim từ trước là bệnh thấp tim mặc dù tiền sử thấp tim thường không rõ ràng.

Thông liên thất (chẩn đoán và điều trị)

Trong tổn thương này, có một lỗ thông ở phần trên của vách liên thất do không hợp nhất được với thành động mạch chủ nên máu đi từ tâm thất trái có áp lực cao sang thất phải có áp lực thấp.

Còn ống động mạch (chẩn đoán và điều trị)

Ống động mạch từ thời kỳ bào thai không thể đóng lại được và vẫn tồn tại một shunt nối động mạch phổi trái với động mạch chủ, thường ở gần chỗ xuất phát của động mạch dưới đòn trái.

Hẹp van động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Hẹp van động mạch chủ có thể xảy ra sau thấp tim nhưng nguyên nhân thường gặp là do sự calci hóa van dần dần chồng chéo lên bệnh van động mạch chủ hai lá bẩm sinh hoặc ở người già có van bình thường trước đó.

Thủ thuật tái tưới máu cho các bệnh nhân bị đau thắt ngực

Sau khi phẫu thuật thành công các triệu chứng nói chung là giảm bớt. Nhu cầu các thuốc chống đau thắt ngực cũng giảm đi và chức năng thất trái tốt lên.

Hẹp phổi (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân bị hẹp động mạch phổi nhẹ có thể có tuổi thọ bình thường. Hẹp nặng thường gắn liền với chết đột ngột và có thể gậy ra suy tim vào những năm 20 đến 30 tuổi.

Lựa chọn và theo dõi các van tim giả

Việc nhận biết rối loạn chức năng van có thể rất khó khăn nhưng siêu âm Doppler đặc biệt là qua đường thực quản có thể phát hiện thấy hẹp trong hầu hết các trường hợp.

Đánh giá những người thoát khỏi chết đột ngột do tim

Một vấn đề điều trị quan trọng ở những bệnh nhân đã bị ngất, tim nhanh thất có triệu chứng hoặc thoát khỏi chết đột ngột là đưa ra những lời khuyên liên quan tới việc lái xe ôtô.

Xem theo danh mục