Các polip u tuyến đường ruột không mang tính chất gia đình

Ngày: 29 - 11 - 2016

Phần lớn các bệnh nhân bị các polip u tuyến là hoàn toàn không triệu chứng. Mất máu kín đáo mạn tính có thể dẫn tối thiếu máu do thiếu sắt. Các polip to có thể loét ra, đưa đến đại tiện ra máu tươi từng đợt.

Các polip là những tổn thương kết khối kín đáo lồi vào nòng ruột. Mặc dù hay thấy đơn phát hơn cả, chúng có thể được di truyền và là một bộ phận của hội chứng polip gia đình. Các polip có thể được chia thành 3 nhóm bệnh chính: Các polip niêm mạc tân sản (thuộc u tuyến), các polip niêm mạc không tân sản (tăng sản, các polip ở vị thành niên, các u loạn phát, các polip viêm) và các tổn thương dưới niêm mạc (các u mỡ, khối kết tập dạng lympho, u dạng ung thư, chứng trương khí dạng nang ở ruột). Các polip không tân sản niêm mạc không có tiềm năng ác tính và thường được phát hiện ngẫu nhiên khi làm nội soi hoặc thụt barit. Chỉ riêng các polip u tuyến có các nội dung lâm sàng đáng kể và sẽ được xem xét thêm. Trong số các polip được lấy đi khi nội soi, trên 70% là u tuyến; phần lớn các polip còn lại là tăng sản. Các polip tăng sản thường là nhỏ (< 5mm) và không gây hậu quả. Sự quan trọng duy nhất của chúng là chúng không thể được phân biệt một cách tin cậy với các tổn thương u tuyến trừ phi làm sinh thiết.

Các u tuyến phát sinh từ biểu mô ruột kết. Về mặt mô học chúng được phân loại thành hình ống, nhung mao và hình ống - nhung mao. Các u tuyến có thể có cuống (chứa một chân) hoặc không có cuống. Các u tuyến có mặt ở 30% số người lớn trên 50 tuổi. Ý nghĩa của chúng là phần lớn các ca ung thư tuyến ruột kết được cho là phát sinh từ u tuyến. Người ta đề xuất rằng có một trình tự u tuyến thành ung cho biểu mô, trong đó ung thư ruột kết trực tràng phát triển qua một quá trình liên tục từ niêm mạc bình thường sang u tuyến và ung thư biểu mô. Xấp xỉ 3% các u tuyến có chứa ung thư biểu mô xâm nhập. Tiềm năng ác tính tương quan với kích thước u tuyến, các đặc điểm nhung mao và mức độ loạn sản. Phần lớn u tuyến nhỏ dưới 1 cm và chỉ dưới 4% số đó sẽ to dần ra theo thời gian.

Các u tuyến nhỏ này chỉ có 1% khả năng chứa chấp ung thư và đưa ra ít nguy cơ. Khoảng 15 - 35% các u tuyến có kích thước 1 - 3cm. Các u tuyến lớn này có nguy cơ cao hơn nhiều chứa chấp ung thư (1 - 2cm: 10%; > 2cm : 46%) hoặc trở thành ung thư qua thời gian. Nguy cơ phát triển ung thư ở một u tuyến 1 cm được dự tính là 8% sau 10 năm. Người ta đã dự tính từ các nghiên cứu theo chiều dọc rằng phải trung bình mất 5 năm để một u tuyến cỡ trung bình phát triển từ niêm mạc có vẻ bình thường và 10 năm cho một ung thư rõ ràng phát sinh.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Phần lớn các bệnh nhân bị các polip u tuyến là hoàn toàn không triệu chứng. Mất máu kín đáo mạn tính có thể dẫn tối thiếu máu do thiếu sắt. Các polip to có thể loét ra, đưa đến đại tiện ra máu tươi từng đợt.

Thử nghiệm tìm máu kín đáo trong phân

Các test máu kín đáo trong phân thường được thực hiện như là một phần của chương trình kiểm tra ung thư ruột kết - trực tràng. Đáng tiếc là các test này chỉ phát hiện được dưới 40% các u tuyển lớn hơn lcm. Trong số các bệnh nhân có test dương tính, xấp xỉ một phần ba có u tuyến (chỉ cao hơn một chút so với tỷ lệ lưu hành bệnh bình thường ở dân số người lớn). Như vậy, các test là không nhậy và không đặc trưng cho các u tuyến.

Các test đặc biệt

Các polip được xác định bằng khám thụt barit, nội soi ống mềm đại tràng sigma, hoặc nội soi ruột kết. Thụt barit tương phản gấp đôi có thể phát hiện 90% các polip, đặc biệt những cái lớn hơn 1 cm. Các tổn thương được thụt barit xác định cần cắt bỏ bằng nội soi ruột kết hoặc sinh thiết. Nội soi ống mềm đại tràng sigma thường được thực hiện như là một bộ phận của chương trình kiệm tra ung thư ruột kết - đại tràng sigma. Xấp xỉ 1/3 đến 1/2 các u tuyến ruột kết là ở tầm tiếp cận được của nội soi ống mềm đại tràng sigma. Các polip được nhìn thấy ở 10 -20% bệnh nhân được kiểm tra nội soi đại tràng sigma và phải được sinh thiết. Các polip tăng sản không cần phải được đánh giá thêm. Các bệnh nhân có polip u tuyến ở nội soi đại tràng sigma phải qua nội soi ruột kết để loại bỏ các polip và tìm xem có những polip đồng thời ở ruột kết gần hay không (40 - 50% các bệnh nhân). Nội soi ruột kết là phương tiện tốt nhất để phát hiện các polip, xác định được 90% các polip nhỏ hơn 8mm và trên 98% các polip lớn hơn.

Điều trị

Vì trình tự u tuyến trở thành ung thư nên tất cả các bệnh nhân được phát hiện có, các polip ở nội soi đại tràng sigma hoặc thụt barit phải qua nội soi ruột kết kèm theo loại bỏ polip bằng các kỹ thuật đốt điện (cắt bỏ các polip), phần lớn các polip u tuyến có thể kiểm nghiệm được bằng loại bỏ nội soi ruột kết an toàn. Các tổn thương lớn không có cuống (> 2 - 3cm) có thể loại bỏ hoặc bằng cách từng phần hoặc có thể cần cắt bỏ ngoại khoa lần đầu. Một khi tất cả polip u tuyến đã được loại bỏ, nên nhắc lại "giám sát" nội soi ruột kết trong 3 năm để tìm các polip bỏ sót hoặc các u tuyến mới. Nếu nội soi ruột kết là âm tính sau 3 năm, sự giám sát tiếp theo có thể tăng thời gian lên 5 năm.

Các polip ác tính có thể được xem xét để điều trị đúng đắn nếu (1) polip được cắt bỏ hoàn toàn và đưa đi xét nghiệm giải phẫu bệnh học; (2) polip được biệt hóa tốt; (3) vùng rìa không bị tổn thương; hoặc (4) không có tổn thương mạch máu hoặc mạch bạch huyết. Vị trí cắt bỏ của các polip ác tính "thuận lợi" này phải được kiểm tra ba tháng một lần tìm các mô còn sót lại. Đối với các bệnh nhân có các polip ác tính với các đặc điểm không thuận lợi thì nên cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật, nếu bệnh nhân là người thích hợp tốt với phẫu thuật.

Tiên lượng

Các kết quả của nghiên cứu polip bao gồm trên 1400 bệnh nhân với các polip u tuyến được chữa bằng loại bỏ nội soi ruột kết chứng tỏ sự giảm sút về phát triển bình thường của ung thư tuyến ở gần 90% bệnh nhân trong một thời kỳ 13 năm. Hầu như chi có một ung thư đã thật sự tăng lên là các tổn thương Dukes A.


Bài xem nhiều nhất

Hội chứng Mallory Weiss (vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản)

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Viêm túi thừa Meckel (chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh giống viêm ruột thừa cấp và tắc ruột cấp tính do viêm tụi thừa Meckel gây nên không thể phân biệt nổi với các quá trình nguyên phát trừ phi bằng cách thăm dò.

Hội chứng Zollinger Ellison (khối u gastrin, chẩn đoán và điều trị)

Phải phân biệt hội chứng Zollinger - Ellison với các nguyên nhân khác gây tăng gastrin huyết. Viêm teo dạ dày với giảm tiết acid được phát hiện bằng phân tích dịch tiết của dạ dày.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là thuật ngữ dùng cho các triệu chứng hoặc tổn hại các mô do dòng trào ngược các dung lượng dạ dày (thường là acid) đi vào thực quản gây ra.

Viêm ruột thừa (chẩn đoán và điều trị)

Viêm ruột thừa gây ra do tắc ống ruột thừa bởi một sỏi phân, viêm, dị vật hoặc khối u ác tính. Tiếp theo tắc là nhiễm khuẩn, phù và thường xuyên là nhồi máu vách ruột thừa.

Bệnh Crohn (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào thân nhiệt của bệnh nhân, cân nặng, trạng thái dinh dưỡng, tăng cảm giác đau khi sờ chạm và nổi khối ở bụng, thăm khám trực tràng và những biểu hiện bên ngoài ruột.

Giãn tĩnh mạch thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Đếm máu toàn bộ, đếm tiểu cầu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin cục bộ, các test chức năng gan, các điện giải huyết thanh, và albumin huyết thanh phải được thực hiện cho mọi bệnh nhân.

Hơi dạ dày ruột (đầy hơi, triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các trạng thái lo âu thường liên kết với thở sâu và thở dài, do đó nuốt vào một lượng không khí lớn. Việc nhai kẹo cao su góp phần vào việc nuốt hơi.

Tiêu chảy mạn tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Một khoảng trống thẩm thấu xác nhận tiêu chảy thẩm thấu. Độ thẩm thấu phân thấp hơn độ thẩm thấu huyết thanh gợi ý rằng nước hoặc nước tiểu đã được cộng thêm vào mẫu (tiêu chảy giả tạo).

Bệnh viêm ruột (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Các khối u dạ dày (u lành tính, ung thư biểu mô tuyến và u lympho)

Ung thư biểu mô dạ dày thường không có triệu chứng cho đến khi bệnh đã tiến triển. Các triệu chứng không đặc trưng và được xác định một phần do vị trí của khối u.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương. Trong một số trạng thái bệnh đường ruột, sự mất protein quá mức vào ống ruột có thể gây nên giảm protein huyết.

Bệnh ỉa chảy mỡ và tiêu chảy (hội chứng kém hấp thu, bệnh niêm mạc ruột nguyên phát)

Mặc dầu chưa có chứng minh quyết định nguyên nhân nhiễm khuẩn, tiêu chảy nhiệt đới hoạt động về mặt lâm sàng giống như một bệnh nhiễm khuẩn. Nó đáp ứng với acid folic và các kháng sinh phổ rộng.

Tiêu chảy cấp tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Bệnh trĩ (chẩn đoán và điều trị)

Trĩ nội là các tĩnh mạch bị giãn ở phần đám rối tĩnh mạch trực tràng nằm dưới niêm mạc ngay ở phía gần bờ răng cưa. Trĩ ngoại cũng phát sinh từ đám rối này, nhưng ở vị trí dưới da, trực tiếp ở phía xa bờ răng cưa.

Xem theo danh mục