Bệnh viêm ruột (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 25 - 11 - 2016

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.


Thuật ngữ "bệnh viêm ruột tự phát mạn tính” bao gồm viêm loét ruột kết và bệnh Crohn. Việm loét ruột kết là bệnh mạn tính, tái phát có đặc điểm là viêm niêm mạc lan tỏa, chỉ gây tổn thương ở ruột kết. Viêm loét ruột kết luôn gây tổn thương trực tràng và có thể lan rộng về phía gần một cách liên tục để làm tổn thương một phần hoặc toàn bộ ruột kết. Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Các liệu pháp dùng thuốc chũa bệnh viêm ruột

Mặc dù bệnh viêm loét ruột kết hoặc bệnh Crohn có vẻ là hai thực thể riêng biệt song các tác nhân dược lý như nhau được sử dụng để chữa cả hai bệnh. Chủ chốt của liệu pháp vẫn là các dẫn xuất của 5 - aminosalicylic acid, các corticosteroid và mercaptopurin.

5 - aminosalicylic acid

5 - ASA là tác nhân hoạt động tại chỗ có nhiều tác dụng chống viêm. Nó được dùng trong điều trị tích cực viêm loét ruột kết và bênh Crohn và trong tình trạng không hoạt động của bệnh nhằm duy trì sự thuyên giảm. Nó được hấp thụ dễ dàng từ một non nhưng biểu lô sự hấp thu tối thiểu từ ruột kết. Một số các hợp chất uống và dùng tại chỗ đã được làm ra để đưa 5 - ASA vào ruột kết hoặc ruột non đồng thời làm giảm thiểu sự hấp thu. Các dạng bào chế của 5 - ASA hiện nay có để dùng là sulfasalazin, olsalazin và mesalamin.

(1) Sulfasalazin. Sulfasalazin bao gồm 5 - ASA được gắn với một nửa của sulfapyridin bằng một liên kết azo. Nó phần lớn không được hấp thu ở ruột non. Trong ruột kết, các men ređuctase của azo tách 5 - ASA ra khỏi nhóm sulfapyridin. Điều không rõ ràng là liệu nhóm sulfapyridin có tác dụng kháng viêm không. Một gam sulfasalazin chứa 400mg 5 - ASA. 5 - ASA tác động tại chỗ và phần lớn không được hấp thu. Song nhóm sulfapyridin được hấp thu và có thể gây ra các tắc dụng phụ ở 15 - 30% các bệnh nhân. Các tác dụng phụ liên quan đến liều lượng bao gồm buồn nôn, đau đầu, giảm bạch cầu, ít tinh trùng, và chuyển hóa folat suy kém. Các tác dụng phụ gây dị ứng và đặc ứng là sốt, phát ban, thiếu máu huyết tán, giảm bạch cầu trung tính, viêm ruột kết nặng thêm, viêm gan, viêm tụy và viêm phổi không điển hình. Dùng sulfasalazin đỡ tốn kém hơn nhiều so với các tác nhân 5 - ASA khác.

(2) Các tác nhân mesalamin dạng uống. Các tác nhân 5 - ASA này được bao bọc trong các vỏ nhựa nhạy cảm với pH khác nhau hoặc đóng vào các nang bọc phóng thích chậm. Các viêm dập mesalamin tan ra ở pH 7,0, phóng thích 5 - ASA ở đoạn cuối ruột non và phần ở gần của ruột kết. Pentasa (chưa sẵn có để dùng) phóng thích 5 - ASA chậm khắp ruột non và ruột kết. Các tác dụng phụ của các hợp chất này hiếm gặp và bao gồm buồn nôn, nhức đầu, viêm tụy, và bệnh thận. 80% các bệnh nhân không dung nạp sulfasalazin có thể dung nạp được mesalamin.

(3) Olsalazin. Olsalazin gồm có hai nửa 5 - ASA gắn kết bằng một liên kết diazo. Tương tự như sulfasalazin, nó không được hấp thu ở ruột non. Ở ruột kết, nó được tách ra do các vi khuẩn, phóng thích 5 - ASA. Các tác dụng phụ nặng là hiếm gặp. Tiêu chảy bài tiết nhẹ liên quan với liều lượng xẩy ra ở 20% các bệnh nhân, có thể đỡ hơn nếu thuốc được dùng cùng với thức ăn.

(4) Mesalamin dùng tại chỗ 5 - ASA được cung cấp dưới hình thức các thuốc đạn (500mg) và thuốc thụt (4g/60ml). Các dạng bào chế này có thể giải phóng ra các nồng độ 5 - ASA cao hơn nhiều tới ruột kết phần xa so với các phức hợp uống. Các tác dụng phụ cực kỳ hiếm.

Corticosteroid

Steroid dưới nhiều dạng như tiêm tĩnh mạch uống hoặc dùng tại chỗ đã được sử dụng cho bệnh viêm ruột. Chúng có lợi ích trong điều trị bệnh trung bình hoặc nặng. Tuy nhiên, việc dùng dài hạn liên quan với các tác dụng phụ nặng, có thể không cứu chữa được và cần phải tránh. Các tác nhân, đường cho thuốc, thời hạn dùng và các chế độ giảm liều thuốc dần được dựa trên phản ứng cá nhân và kinh nghiệm cá nhân hơn là trên các dữ liệu lấy từ các thử nghiệm lâm sàng. Các dạng tiêm tĩnh mạch thường dung nhất là hydrocortison hoặc methyl prednisolon được truyền liên tục hoặc 6 giờ một lần. Các dạng để uống là prednison hoặc methylprednisolon. Các dạng dùng tại chỗ được cung cấp là các viên đạn hydrocortison (100mg), dạng bọt (90mg) và dạng thụt (100mg).

Mercaptopurin

Mercaptopurin (6MP) được dùng cho 10 - 15% các bệnh nhân bị bệnh Crohn dai dẳng, các tác dụng phụ xẩy ra ổ 10% bao gồm viêm tuy, ức chế tủy xương, các nhiễm khuẩn, dị ứng, và có khả năng là cố nguy cơ cao hơn bị u ác tính. Sau khi bắt đầu điều trị phải thực hiện đếm máu toàn bộ hàng tuần trong 1 tháng sau đó ít nhất là hàng tháng.

Hỗ trợ xã hội đối với bệnh viêm ruột

Bệnh viêm ruột là một căn bệnh suốt đời có thể gây ra các ảnh hưởng xúc cảm và xã hội sâu xa đối với cá nhân. Cần phải khuyến khích bệnh nhân.


Bài xem nhiều nhất

Hơi dạ dày ruột (đầy hơi, triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các trạng thái lo âu thường liên kết với thở sâu và thở dài, do đó nuốt vào một lượng không khí lớn. Việc nhai kẹo cao su góp phần vào việc nuốt hơi.

Ung thư ruột kết (đại tràng) trực tràng (chẩn đoán và điều trị)

Một tiền sử về polip u tuyến (đặc biệt nếu có nhiều hoặc lớn hơn 1 cm) làm tăng nguy cơ các u tuyến tiếp sau và ung thư biểu mô, do đó cần được giám sát nội soi ruột kết thường kỳ. Các polip tăng sản không được coi là nhân tố nguy cơ quan trọng.

Nấc (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Khi nguyên nhân vẫn còn chưa rõ, thử nghiệm thêm gồm chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và bụng, siêu âm tim, nội soi phế quản và nội soi phần trên đường dạ dày - ruột.

Tiêu chảy mạn tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Một khoảng trống thẩm thấu xác nhận tiêu chảy thẩm thấu. Độ thẩm thấu phân thấp hơn độ thẩm thấu huyết thanh gợi ý rằng nước hoặc nước tiểu đã được cộng thêm vào mẫu (tiêu chảy giả tạo).

Viêm ruột thừa (chẩn đoán và điều trị)

Viêm ruột thừa gây ra do tắc ống ruột thừa bởi một sỏi phân, viêm, dị vật hoặc khối u ác tính. Tiếp theo tắc là nhiễm khuẩn, phù và thường xuyên là nhồi máu vách ruột thừa.

Tiêu chảy cấp tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Các hội chứng polip đường ruột mang tính chất gia đình

Bệnh polip u tuyến trong gia đình là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường mang tính trội, đưa đến sự phát triển hàng trăm tới hàng nghìn u tuyến ở ruột kết.

Lao ruột (viêm ruột do lao, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể không có hoặc tối thiểu ngay cả khi bệnh lan rộng, thường bao gồm sốt, chán ăn, buồn nôn, đầy hơi, căng trướng bụng sau ăn và không dung nạp thức ăn.

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính (chẩn đoán và điều trị)

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính có thể từ nhiều nguồn gốc. Các nguồn này được liệt kê dưới đây theo thứ tự số lần chúng gây ra xuất huyết đáng kể.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là thuật ngữ dùng cho các triệu chứng hoặc tổn hại các mô do dòng trào ngược các dung lượng dạ dày (thường là acid) đi vào thực quản gây ra.

Hội chứng ruột kích ứng (chẩn đoán và điều trị)

Các rối loạn chức năng dạ dày ruột có đặc điểm là sự kết hợp khác nhau của các triệu chứng mạn tính hoặc tái phát không thề giải thích bằng các bất thường vê cấu trúc hoặc sinh hóa học.

Chảy máu túi thừa ruột kết (chẩn đoán và điều trị)

Ở bệnh nhân bị xuất hụyết hoạt động, việc đánh giá cấp cứu hoặc chụp quét hống cầu đánh dấu chất phóng xạ 99mTc hoặc chụp mạch mạc treo phải được thực hiện.

Hội chứng Mallory Weiss (vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản)

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Buồn nôn và nôn (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Trong nôn cấp tính, chụp X quang bụng tư thế nằm và đứng được thực hiện cho các bệnh nhân đau dữ dội hoặc nghi là tắc ruột cơ học để tìm hơi trong khoang bụng hoặc các quai ruột non giãn to.

Táo bón (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các bệnh nhận mà táo bón không thể quy cho những nguyên nhân trên và không đáp ứng với việc xử lý bảo tồn vì ăn uống có thể đưa ra các vấn đề xử lý khó khăn. Về mặt khái niệm có thể chia các bệnh nhân này thành hai loại.

Các tổn thương ác tính ở thực quản (ung thư thực quản)

Tổn thương thanh quản tái phát có thể làm khàn tiến. Khám thực thể thường không phát hiện gì. Sự có mặt của hạch lympho trên xương đòn hoặc cổ, hoặc của gan to chứng tỏ gián tiếp là bệnh đã di căn.

Đau ngực không rõ căn nguyên (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh này phải được xét đến ở bệnh nhân có mạch đồ của mạch vành bình thường khi làm các test chịu đựng có kết quả bất thường. Nhiều rối loạn khác như bệnh thấp, dạ dày - ruột và tâm thần có thể liên quan với hội chứng này.

Các u của ruột non (chẩn đoán và điều trị)

Các u lành tính có thể không có triệu chứng hoặc là sự phát hiện tình cờ khi phẫu thuật hoặc mổ xác. Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ.

Bệnh viêm ruột (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Giãn phình mạch đường ruột (chẩn đoán và điều trị)

Phần lớn các giãn phình mạch ruột kết là các tổn thương thoái hóa được giả thiết, là sinh ra do co cứng cơ ruột kết mạn tính, làm tắc sự dẫn lưu tĩnh mạch niêm mạc.

Viêm túi thừa ruột kết (chẩn đoán và điều trị)

Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng nhẹ đến nỗi bệnh nhân không tìm đến sự chú ý về y tế cho đến nhiều ngày sau khi bị đau ở cung dưới trái, và một khối sờ thấy ở bụng.

Bệnh Crohn (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào thân nhiệt của bệnh nhân, cân nặng, trạng thái dinh dưỡng, tăng cảm giác đau khi sờ chạm và nổi khối ở bụng, thăm khám trực tràng và những biểu hiện bên ngoài ruột.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương. Trong một số trạng thái bệnh đường ruột, sự mất protein quá mức vào ống ruột có thể gây nên giảm protein huyết.

Chứng khó tiêu (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các triệu chứng của các bệnh nhân này có thể sinh ra do sự tương tác phức tạp của các nhân tố tâm lý, sự nhận thức đau nội tại bất thường và rối loạn di động dạ dày.

Xuất huyết dạ dày tá tràng (biến chứng của bệnh loét tiêu hóa)

Hematocrit có thể hạ thấp do hậu quả chảy máu hoặc sự truyền bù thể tích nội mạch vào tĩnh mạch. Cân bằng nitơ urê huyết có thể lên cao do hậu quả hấp thu nitơ máu từ ruột non và tăng urê huyết trước thận.

Xem theo danh mục