Tắc ruột chức năng và giả tắc ruột tự phát (tắc ruột vô lực, tắc ruột do liệt)

Ngày: 24 - 11 - 2016

Trướng bụng lan rộng và có thể trướng to với tăng tối thiểu cảm giác đau bụng không khu trú khi sờ, và không có các triệu chứng kích thích màng bụng trừ phi do bệnh nguyên phát gây ra.

Các yếu tố thiết yếu trong chẩn đoán

Đau bụng liên tục, chướng bụng, nôn và táo bón nặng.

Tiền sử có yếu tố hối thúc (đã phẫu thuật, viêm màng bụng, các thuốc chống tiết cholin, viêm phổi, nhồi máu cơ tim dưới).

Đau bụng khi sờ nắn ở mức tối thiểu; các tiếng của ruột giảm hay mất.

Bằng chứng X quang về hơi và mức nước trong ruột.

Các nhận định chung

Tắc ruột vô lực là sự suy yếu thần kinh hoặc cơ của nhu động, có thể dẫn tới tắc ruột. Nó là một rối loạn thường gặp, do nhiều nguyên nhân trong ổ bụng có thể gây nên, thí dụ sau mổ dạ dày - ruột, kích thích màng bụng (xuất huyết, nội tạng vỡ, viêm tụy, viêm màng bụng) hoặc tắc thực thể do thiếu oxy. Các thuốc có các tính chất chống tiết cholin, cơn đau thận, gẫy xương sống, tổn thương tủy sống, các nhiễm khuẩn nặng, tăng urê huyết, hôn mê đái tháo đường, và các bất thường điện giải (đặc biệt là giảm kali huyết) cũng có thể gây tắc ruột vô lực.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Có đau bụng nhẹ tới trung bình, tính chất liên tục hơn là từng cơn một, kèm theo nôn (về sau chất nôn có phân) và táo bón nặng. Không có tiếng ùng ục ở bụng. Các triệu chứng của bệnh ban đầu (khởi phát) cũng có thể xuất hiện (như sốt, mệt lử do nội tạng vỡ).

Trướng bụng lan rộng và có thể trướng to với tăng tối thiểu cảm giác đau bụng không khu trú khi sờ, và không có các triệu chứng kích thích màng bụng trừ phi do bệnh nguyên phát gây ra. Các tiếng của ruột giảm hay mất. Mất nước có thể xẩy ra sau khi nôn kéo dài hoặc do sự tách biệt chất lỏng ở các quai ruột. Các dấu hiệu khác của rối loạn ban đầu có thể xuất hiện.

Các phát hiện labo

Với nôn kéo dài, có thể xẩy ra cô đặc máu, mất cân bằng điện giải. Tăng bạch cầu, thiếu máu tăng amylase huyết thanh có thể xuất hiện tùy theo tình trạng ban đầu.

Ghi hình ảnh

Chụp X quang bụng cho thấy các quai ruột căng giãn đày hơi của ruột non và ruột kết, kể cả trong trực tràng. Có thể có bằng chứng về các mức nước - hơi trong các ruột bị căng giãn. Khi chưa rõ có thể thụt barit và X quang rưột non tiếp theo để loại trừ tắc ruột thực thể.

Chẩn đoán phân biệt

Các triệu chứng và dậu hiệu tắc ruột với mất tiếng ruột và một tiền sử có bệnh nghi ngờ về chẩn đoán. Điều quan trọng là biết chắc rằng tắc ruột vô lực không phải là thứ phát của tắc ruột thực thể, đặc biệt là do thiếu oxy, khi ấy xử trí bảo tồn gây hại và phẫu thuật tức thời có thể cứu sống.

Điều trị

Phần lớn các trường hợp tắc ruột vô lực là sau mổ và đáp ứng với sự hạn chế cho ăn uống và mở rộng dần chế độ ăn trong khi chức năng ruột đang phục hồi. Tắc ruột nặng và kéo dài có thể cần hút dạ dày - ruột và hạn chế hoàn toàn cho ăn uống. Trong các trường hợp này bồi phụ các chất lỏng và điện giải theo đường ngoài ruột là cần thiết. Đặt ống trực tràng hoặc chỉ cần đặt ống soi ruột kết đã có thể giúp làm giảm áp lực của ruột kết bị giãn to. Khi liệu pháp bảo tồn thất bại, có thể cần phải phẫu thuật nhằm làm giảm áp lực ruột bằng cách mở thông ruột hoặc mở thông manh tràng và loại bỏ tắc cơ học.

Các ca tắc ruột vô lực thứ phát của các rối loạn khác (như mất cân bằng điện giải, nhiễm khuẩn nặng, tổn thương trong ổ bụng hoặc lưng, viêm phổi không điển hình) được xử trí như trên cộng thêm điều trị bệnh tiên phát.

Tiên luợng

Tiên lượng thay đổi theo tiên lượng của bệnh tiên phát.

Tắc ruột vô lực có thể tiêu tan không cần liệu pháp đặc hiệu khi nguyên nhân bị loại bỏ. Đặt ống để làm giảm áp lực thường đạt kết quả làm chức năng ruột phục hồi.

Giả tắc ruột tự phát

Rối loạn tự phát này thường thấy ở thiếu niên và thanh niên có đặc điểm là các triệu chứng tái phát của tắc ruột nhưng không có bằng chứng về tắc ruột thực thể trên X quang hoặc phẫu thuật thâm dò. Hội chứng Ogilvie, một vấn đề tương tự, bao gồm giãn to manh tràng là chủ yếu, ở những bệnh nhân già nằm liệt giường và thường có bệnh phổi tắc mạn tính. Ở cả hai, tất cả các nguyên nhân nêu ở trên về tác ruột chức năng đều không có. Bệnh nhằn được điều trị bằng hút đường mũi - dạ dày, truyền dịch tĩnh mạch và nuôi dưỡng ngoài đường ruột khi cần thiết làm giảm áp lực bằng đặt ống nội soi ruột kết hoặc mở thông manh tràng là cần thiết trong hội chứng Ogilvie.


Bài xem nhiều nhất

Hội chứng Mallory Weiss (vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản)

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là thuật ngữ dùng cho các triệu chứng hoặc tổn hại các mô do dòng trào ngược các dung lượng dạ dày (thường là acid) đi vào thực quản gây ra.

Hội chứng Zollinger Ellison (khối u gastrin, chẩn đoán và điều trị)

Phải phân biệt hội chứng Zollinger - Ellison với các nguyên nhân khác gây tăng gastrin huyết. Viêm teo dạ dày với giảm tiết acid được phát hiện bằng phân tích dịch tiết của dạ dày.

Viêm túi thừa Meckel (chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh giống viêm ruột thừa cấp và tắc ruột cấp tính do viêm tụi thừa Meckel gây nên không thể phân biệt nổi với các quá trình nguyên phát trừ phi bằng cách thăm dò.

Viêm ruột thừa (chẩn đoán và điều trị)

Viêm ruột thừa gây ra do tắc ống ruột thừa bởi một sỏi phân, viêm, dị vật hoặc khối u ác tính. Tiếp theo tắc là nhiễm khuẩn, phù và thường xuyên là nhồi máu vách ruột thừa.

Giãn tĩnh mạch thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Đếm máu toàn bộ, đếm tiểu cầu, thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin cục bộ, các test chức năng gan, các điện giải huyết thanh, và albumin huyết thanh phải được thực hiện cho mọi bệnh nhân.

Bệnh Crohn (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào thân nhiệt của bệnh nhân, cân nặng, trạng thái dinh dưỡng, tăng cảm giác đau khi sờ chạm và nổi khối ở bụng, thăm khám trực tràng và những biểu hiện bên ngoài ruột.

Bệnh viêm ruột (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Tiêu chảy mạn tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Một khoảng trống thẩm thấu xác nhận tiêu chảy thẩm thấu. Độ thẩm thấu phân thấp hơn độ thẩm thấu huyết thanh gợi ý rằng nước hoặc nước tiểu đã được cộng thêm vào mẫu (tiêu chảy giả tạo).

Các khối u dạ dày (u lành tính, ung thư biểu mô tuyến và u lympho)

Ung thư biểu mô dạ dày thường không có triệu chứng cho đến khi bệnh đã tiến triển. Các triệu chứng không đặc trưng và được xác định một phần do vị trí của khối u.

Bệnh ỉa chảy mỡ và tiêu chảy (hội chứng kém hấp thu, bệnh niêm mạc ruột nguyên phát)

Mặc dầu chưa có chứng minh quyết định nguyên nhân nhiễm khuẩn, tiêu chảy nhiệt đới hoạt động về mặt lâm sàng giống như một bệnh nhiễm khuẩn. Nó đáp ứng với acid folic và các kháng sinh phổ rộng.

Tiêu chảy cấp tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Các u của ruột non (chẩn đoán và điều trị)

Các u lành tính có thể không có triệu chứng hoặc là sự phát hiện tình cờ khi phẫu thuật hoặc mổ xác. Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ.

Hơi dạ dày ruột (đầy hơi, triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các trạng thái lo âu thường liên kết với thở sâu và thở dài, do đó nuốt vào một lượng không khí lớn. Việc nhai kẹo cao su góp phần vào việc nuốt hơi.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương. Trong một số trạng thái bệnh đường ruột, sự mất protein quá mức vào ống ruột có thể gây nên giảm protein huyết.

Xem theo danh mục