Các tổn thương ác tính ở thực quản (ung thư thực quản)

Ngày: 22 - 11 - 2016

Tổn thương thanh quản tái phát có thể làm khàn tiến. Khám thực thể thường không phát hiện gì. Sự có mặt của hạch lympho trên xương đòn hoặc cổ, hoặc của gan to chứng tỏ gián tiếp là bệnh đã di căn.


Các yếu tố thiết yếu trong chẩn đoán

Khó nuốt thức ăn đặc tiến triển.

Sụt cân thường xẩy ra.

Nội soi với sinh thiết xác nhận chẩn đoán.

Các nhận định chung

Ung thư thực quản thường phát triển ở những người ở độ tuổi 50 và 70 tuổi. Tỷ suất chung giữa nam và nữ giới là 3:1. Có hai loại mô học: ung thư biểu mô tế bào vẩy và ung thư biểu mô tuyến. Ở Hoa Kỳ, ung thư tế bào vẩy thường có nhiều ở người da đen hơn ở người da trắng. Nghiện rượu và thuốc lá liên quan mạnh mẽ với sự tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vẩy. Nguy cơ ung thư cũng tăng ở các bệnh nhân bị chai chân, không giãn cơ thắt thực quản dưới, chẹt thực quản do hóa chất ăn mòn, các ung thư đầu và cổ khác. Ung thư biểu mô tuyến thường thấy hơn ở người da trắng và đang tăng lên đột ngột về tỷ lệ mắc bệnh. Phần lớn các ung thư biểu mô tuyến phát triển như là biến chứng của dị sản Barrett do dòng trào ngược dạ dày - thực quản mạn tính. Như vậy, phần lớn ung thư biểu mô tuyến phát sinh ở phần ba xa của thực quản.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Không may là phần lớn các bệnh nhân ung thư thực quản đến viện khi bệnh đã muộn và không chữa được. Hơn 90% các bệnh nhân bị khó nuốt thức ăn đặc, tiến triển trong nhiều tuần, nhiều tháng. Nuốt đau thường xuất hiện. Thường sụt cân nhiều. Sự mở rộng khối u tại chỗ vào cây khí phế quản có thể đưa đến lỗ rò khí - thực quản, có đặc điểm là ho khi nuốt hoặc viêm phổi. Đau ngực hoặc lưng làm nghĩ đến sự lan rộng ra trung thất. Tổn thương thanh quản tái phát có thể làm khàn tiến. Khám thực thể thường không phát hiện gì. Sự có mặt của hạch lympho trên xương đòn hoặc cổ, hoặc của gan to chứng tỏ gián tiếp là bệnh đã di căn.     

Các phát hiện labo

Các phát hiện labô là không đặc trưng. Thiếu máu liên quan với bệnh mạn tính hoặc mất máu kín đáo là thông thường. Các đậm độ bất thường của aminotransferase và phosphatase kiềm gợi ý là có di căn gan hoặc xương. Giảm albumin huyết có thể là hậu quả của thiếu dinh dưỡng.

Ghi hình ảnh

Chụp X quang lồng ngực có thể cho thấy bệnh hạch lympho, trung thất rộng ra, các di căn ở phổi hoặc ở xương, hoặc các dấu hiệu của rò khí - thực quản như là viêm phổi. Soi thực quản với barit thường do các thầy thuốc lâm sàng làm, xem như nghiên cứu đầu tiên để đánh giá khó nuốt. Sự xuất hiện tổn thương dạng polip, thâm nhiễm, hoặc loét gợi ý ung thư biểu mô và đòi hỏi đánh giá bằng nội soi. Tuy nhiên, kể cả các tổn thương mà chụp X quang cho thấy có vẻ là lành tính cũng chứng tỏ sự cần thiết phải đánh giá nội soi.

Nội soi phần trên

Nội soi với tế bào học và sinh thiết xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô thực quản với độ tin cậy cao. Trong một số trường hợp, sự lan rộng của u dưới niêm mạc quan trọng có thể đưa đến các sinh thiết niêm mạc không có giá trị chẩn đoán. Có thể cần làm sinh thiết lại nhiều lần.

Chẩn đoán phân biệt

Ung thư biểu mô thực quản phải được phân biệt với các nguyên nhân khác gây khó nuốt tiến triển, bao gồm chít hẹp tiêu hóa, không giãn cơ thắt thực quản dưới, ung thư biểu mô tuyến của tâm vị với tổn thương thực quản. Các chỗ chít hẹp tiêu hóa có vẻ lành tính phải được sinh thiết ở nơi xẩy ra để lòại trừ ung thư kín đáo.

Xác định giai đoạn bệnh

Sau khi xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô thực quản, người ta phải xác định giai đoạn của bệnh vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn liệu pháp. Sau khi xác định giai đoạn bệnh trước mổ hoặc trong khi mổ, các bệnh nhân có thể phân vào ba loại: (1) có thể cắt bỏ với mục đích chữa khỏi bệnh, (2) có thể cắt bỏ nhưng không chữa khỏi bệnh và (3) không cắt bỏ được và không chữa khỏi bệnh. Mục tiêu đặt ra là xác định một nhtím nhỏ các bệnh nhân có thể được lợi do cắt bỏ chữa bệnh trong khi loại ra một nhóm lớn hơn sẽ không hưởng lợi - mà thật vậy có thể trở nên tồi tệ hơn do phẫu thuật.

Bệnh nhân phải qua sự xác định giai đoạn bệnh bằng chụp cất lớp vi tính. Chụp siêu âm nội soi, tuy chưa được sử dụng rộng rãi, có ưu điểm hơn chụp cắt lớp vi tính trong việc xác minh độ lan rộng của u tại chỗ và tổn thương hạch lympho tại chỗ. Sự có mặt của các di căn xa, sự thâm nhập vào trung thất hoặc màng phổi hoặc tổn thương hạch sẽ loại trừ việc cát bỏ để chữa bệnh.

Điều trị

Cách tiếp cận và điều trị ung thư thực quản là khác nhau giữa các cơ sở. Rất ít bệnh nhân được chọn để cắt bỏ chữa bệnh. Trong số còn lại, mục tiêu là khống chế u tại chỗ và làm giảm nhẹ. Điều này có thể đặt được bằng nhiều cách thức:

Điều trị ngoại khoa

Một số nhỏ các bệnh nhân có thể cắt bỏ cả khối để chữa bệnh, tỷ lệ sống thêm 3 năm là 25 - 50%. Các bệnh nhân khác với các tổn thương không chữa được vẫn còn có thể được lựa chọn việc cắt bỏ làm giảm nhẹ, có khả năng cải thiện việc ăn và ngăn ngừa biến chứng tại chỗ của u nhưng không cải thiện khả năng sống thêm nói chung. Lợi ích của hóa điều trị trước mổ cùng với chiếu xạ đang được điều tra về mặt lâm sàng.

Liệu pháp chiếu xạ

Các bệnh nhân với bệnh không mổ được hoặc nói cách khác những người có triển vọng xấu về phẫu thuật thường được gửi đi làm liệu pháp chiếu xạ. Liệu pháp này có thể cung cấp sự giảm nhẹ ngắn hạn đáng kể về các triệu chứng tại chỗ nhu khó nuốt và đau.

Chiếu xạ và hóa liệu pháp

Liệu pháp kết hợp chiếu xạ và hóa chất có vẻ có ưu điểm hơn đơn thuần chiếu xạ đối với ung thư biểu mô khu trú (tức là không có di căn) trong việc đạt tới sự khống chế tại chỗ và khả năng sống thêm nói chung. Tác nhân có hiệu quả nhất hiện nay là cisplatin và fluorouracil. Vì độc tính của chế độ điều trị này lớn hơn nhiều so với liệu pháp chiếu xạ đơn thuần, việc lựa chọn bệnh nhân thích đáng là cực kỳ quan trọng.

Điều trị khối u tại chỗ

Việc làm đỡ khó nuốt có thể đạt được bằng nong thực quản dưới hướng dẫn nội soi hoặc điều trị laser. Ở một số bệnh nhân, việc đặt qua miệng các đường mở cố định bằng chất dẻo là hữu ích.

Tiên lượng

Tiên lượng chung của ung thư biểu mô thực quản vẫn còn là xấu với dưới 5% tỷ lệ sống thêm 5 năm.


Bài xem nhiều nhất

Hơi dạ dày ruột (đầy hơi, triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các trạng thái lo âu thường liên kết với thở sâu và thở dài, do đó nuốt vào một lượng không khí lớn. Việc nhai kẹo cao su góp phần vào việc nuốt hơi.

Ung thư ruột kết (đại tràng) trực tràng (chẩn đoán và điều trị)

Một tiền sử về polip u tuyến (đặc biệt nếu có nhiều hoặc lớn hơn 1 cm) làm tăng nguy cơ các u tuyến tiếp sau và ung thư biểu mô, do đó cần được giám sát nội soi ruột kết thường kỳ. Các polip tăng sản không được coi là nhân tố nguy cơ quan trọng.

Nấc (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Khi nguyên nhân vẫn còn chưa rõ, thử nghiệm thêm gồm chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và bụng, siêu âm tim, nội soi phế quản và nội soi phần trên đường dạ dày - ruột.

Tiêu chảy mạn tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Một khoảng trống thẩm thấu xác nhận tiêu chảy thẩm thấu. Độ thẩm thấu phân thấp hơn độ thẩm thấu huyết thanh gợi ý rằng nước hoặc nước tiểu đã được cộng thêm vào mẫu (tiêu chảy giả tạo).

Tiêu chảy cấp tính (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Ở trên 90% bệnh nhân tiêu chảy cấp tính thấy bệnh nhẹ và tự khỏi, đáp ứng trong vòng 5 ngày với liệu pháp tiếp nước đơn giản hoặc các tác nhân chống tiêu chảy.

Viêm ruột thừa (chẩn đoán và điều trị)

Viêm ruột thừa gây ra do tắc ống ruột thừa bởi một sỏi phân, viêm, dị vật hoặc khối u ác tính. Tiếp theo tắc là nhiễm khuẩn, phù và thường xuyên là nhồi máu vách ruột thừa.

Các hội chứng polip đường ruột mang tính chất gia đình

Bệnh polip u tuyến trong gia đình là một bệnh di truyền nhiễm sắc thể thường mang tính trội, đưa đến sự phát triển hàng trăm tới hàng nghìn u tuyến ở ruột kết.

Lao ruột (viêm ruột do lao, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể không có hoặc tối thiểu ngay cả khi bệnh lan rộng, thường bao gồm sốt, chán ăn, buồn nôn, đầy hơi, căng trướng bụng sau ăn và không dung nạp thức ăn.

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính (chẩn đoán và điều trị)

Xuất huyết đường dạ dày ruột trên cấp tính có thể từ nhiều nguồn gốc. Các nguồn này được liệt kê dưới đây theo thứ tự số lần chúng gây ra xuất huyết đáng kể.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là thuật ngữ dùng cho các triệu chứng hoặc tổn hại các mô do dòng trào ngược các dung lượng dạ dày (thường là acid) đi vào thực quản gây ra.

Hội chứng ruột kích ứng (chẩn đoán và điều trị)

Các rối loạn chức năng dạ dày ruột có đặc điểm là sự kết hợp khác nhau của các triệu chứng mạn tính hoặc tái phát không thề giải thích bằng các bất thường vê cấu trúc hoặc sinh hóa học.

Chảy máu túi thừa ruột kết (chẩn đoán và điều trị)

Ở bệnh nhân bị xuất hụyết hoạt động, việc đánh giá cấp cứu hoặc chụp quét hống cầu đánh dấu chất phóng xạ 99mTc hoặc chụp mạch mạc treo phải được thực hiện.

Buồn nôn và nôn (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Trong nôn cấp tính, chụp X quang bụng tư thế nằm và đứng được thực hiện cho các bệnh nhân đau dữ dội hoặc nghi là tắc ruột cơ học để tìm hơi trong khoang bụng hoặc các quai ruột non giãn to.

Táo bón (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các bệnh nhận mà táo bón không thể quy cho những nguyên nhân trên và không đáp ứng với việc xử lý bảo tồn vì ăn uống có thể đưa ra các vấn đề xử lý khó khăn. Về mặt khái niệm có thể chia các bệnh nhân này thành hai loại.

Hội chứng Mallory Weiss (vết rách niêm mạc chỗ nối dạ dày thực quản)

Các bệnh nhân thường bộc lộ nôn ra máu cùng với hoặc không có đại tiện máu đen. Một lịch sử quá khứ về nôn, nôn khan hoăc cố gắng rặn được khai thác trong khoảng 50% các trường hợp.

Các tổn thương ác tính ở thực quản (ung thư thực quản)

Tổn thương thanh quản tái phát có thể làm khàn tiến. Khám thực thể thường không phát hiện gì. Sự có mặt của hạch lympho trên xương đòn hoặc cổ, hoặc của gan to chứng tỏ gián tiếp là bệnh đã di căn.

Đau ngực không rõ căn nguyên (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh này phải được xét đến ở bệnh nhân có mạch đồ của mạch vành bình thường khi làm các test chịu đựng có kết quả bất thường. Nhiều rối loạn khác như bệnh thấp, dạ dày - ruột và tâm thần có thể liên quan với hội chứng này.

Các u của ruột non (chẩn đoán và điều trị)

Các u lành tính có thể không có triệu chứng hoặc là sự phát hiện tình cờ khi phẫu thuật hoặc mổ xác. Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ.

Bệnh viêm ruột (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Crohn là một bệnh mạn tính, tái phát do đặc điểm là niêm xuyên vách ruột từng mảng gây tổn thương ở bất kỳ đoạn nào của đường dạ dày ruột, từ miệng tối hậu môn.

Giãn phình mạch đường ruột (chẩn đoán và điều trị)

Phần lớn các giãn phình mạch ruột kết là các tổn thương thoái hóa được giả thiết, là sinh ra do co cứng cơ ruột kết mạn tính, làm tắc sự dẫn lưu tĩnh mạch niêm mạc.

Viêm túi thừa ruột kết (chẩn đoán và điều trị)

Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng nhẹ đến nỗi bệnh nhân không tìm đến sự chú ý về y tế cho đến nhiều ngày sau khi bị đau ở cung dưới trái, và một khối sờ thấy ở bụng.

Bệnh Crohn (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám lâm sàng phải tập trung vào thân nhiệt của bệnh nhân, cân nặng, trạng thái dinh dưỡng, tăng cảm giác đau khi sờ chạm và nổi khối ở bụng, thăm khám trực tràng và những biểu hiện bên ngoài ruột.

Bệnh Whipple (bệnh loạn dưỡng mỡ ruột) và bệnh ruột mất protein

Sự rò rỉ protein huyết tương vào ống ruột là một giai đoạn không thể thiếu của chuyển hóa các protein huyết tương. Trong một số trạng thái bệnh đường ruột, sự mất protein quá mức vào ống ruột có thể gây nên giảm protein huyết.

Xuất huyết dạ dày tá tràng (biến chứng của bệnh loét tiêu hóa)

Hematocrit có thể hạ thấp do hậu quả chảy máu hoặc sự truyền bù thể tích nội mạch vào tĩnh mạch. Cân bằng nitơ urê huyết có thể lên cao do hậu quả hấp thu nitơ máu từ ruột non và tăng urê huyết trước thận.

Chứng khó tiêu (triệu chứng và dấu hiệu của bệnh dạ dày ruột)

Các triệu chứng của các bệnh nhân này có thể sinh ra do sự tương tác phức tạp của các nhân tố tâm lý, sự nhận thức đau nội tại bất thường và rối loạn di động dạ dày.

Xem theo danh mục