Chẩn đoán các rối loạn do dùng thuốc (phụ thuộc thuốc, lạm dụng thuốc)

Ngày: 20 - 1 - 2016

Những người có rối loạn stress sau sang chấn thường tự điều trị bằng nhiều loại thuốc khác nhau. Người sử dụng nhiều loại ma tuý khác nhau, kéo dài thường có hình ảnh teo não trên CT scan.

Thuật ngữ “phụ thuộc thuốc” được dùng với nghĩa khá rộng, ở đây bao gồm cả nghiện và thói quen, Nó bao gồm ba thành tố của việc sử dụng thuốc cưỡng chế như là nghiện thuốc, gồm (1) phụ thuộc tâm lý hoặc thèm và những hành vi tìm kiếm thuốc; (2) phụ thuộc sinh lí, có các triệu chứng cai khi ngừng thuốc và (3) độ dung nạp, có nghĩa là có nhu cầu tăng liều để đạt được hiệu quả sảng khoái. Sự phụ thuộc thuốc còn tùy vào khối lượng thuốc và thời gian sử dụng thuốc. Lượng thuốc cần để tạo ra sự phụ thuộc cũng rất khác nhau, tùy theo loại thuốc và bản chất đặc trưng của người sử dụng. Tần suất sử dụng thường là hàng ngày, khoảng thời gian chịu đựng được có thể lớn hơn 2 - 3 tuần. Thường là dùng nhiều loại ma túy. Có một tỉ lệ lớn những người nghiện ma tuý đã từng điều trị cai nghiện (ví dụ, để tránh rắc rối về pháp luật hoặc có cơ hội tìm được nhiều thuốc hơn.

Đã có nhiều bằng chứng cho thấy ở nhiều người đã (hoặc đang) dùng ma tuý có hội chứng suy giảm. Người ta cho rằng ma tuý gây tổn thương các vị trí của thụ thể dẫn truyền thần kinh và hậu quả là sự mất cân bằng gây ra các triệu chứng giống với người bệnh tâm thần. “Khơi dậy” kích thích não lặp lại khiến cho người bệnh nhạy cảm hơn với hoạt hoá cục bộ ở não với một kích thích tối thiểu. Các thuốc kích thích và thuốc trầm cảm có thể tạo ra sự “khơi dậy” dẫn đến những tác động tự phát tương đối mà không phụ thuộc vào kích thích ban đầu. Những tác động này có thể được biểu hiện bằng sự thay đổi khí sắc, hoảng loạn, loạn thần và đôi khi còn có cơn co giật rõ nét. Sự mất cân bằng cũng gây ra tính kém hiệu suất của cá nhân: thường phải thày đổi nghề nghiệp, có những vấn đề về hôn nhân và nhìn chung là hành vi thất thường. Những người có rối loạn stress sau sang chấn thường tự điều trị bằng nhiều loại thuốc khác nhau. Người sử dụng nhiều loại ma tuý khác nhau, kéo dài thường có hình ảnh teo não trên CT scan. Điều này có thể liên quan với những triệu chửng kể trên. Việc phát hiện sớm là rất quan trọng, chủ yếu là xác lập chương trình điều trị tập trung vào giải quyết các triệu chứng.

Thầy thuốc phải đối mặt với ba vấn đề của lạm dụng thuốc (chất); (1) chỉ định các thuốc như làm dịu, thuốc kích thích hoặc thuốc ngủ có thể gây phụ thuộc thuốc; (2) điều trị những cá nhân gần như là đã nghiện, thường nhất là nghiện rượu và (3) phát hiện những thuốc bất hợp pháp đã dùng ở bệnh nhân có các triệu chứng loạn thẩn. Việc sử dụng phân tích nước tiểu để phát hiện thuốc khác nhau rõ rệt với các thuốc khác nhau và dưới các hoàn cảnh khác nhau. Các loại thuốc tan trong nước (ví dụ như rượu, chất kích thích, các opioid) được thải trừ ngay trong ngày hoặc hơn một chút. Các loại ưa mỡ (ví dụ nhóm barbiturat, tetrahydrocannabinol) chỉ xuất hiện trong nước tiểu sau một khoảng thời gian dài, đa phần là vài ngày, với người nghiện cần sa kéo dài thì phải sau 1- 2 tháng. Việc xác định các thuốc làm dịu cũng rất khó tùy thuộc vào lượng thuốc và khoảng thời gian sử dụng. Dương tính giả cũng là một vấn đề có liên quan đến những thuốc được phép sử dụng (ví dụ, phenytoin nhầm với barbiturat; phenylpropanolamín nhầm với amphetamin; chloropromazin nhầm với opioid) và một số thực phẩm (ví dụ, hạt cây thuốc phiện nhầm với opioid, chè từ lá cây coca nhầm với cocain). Các thao tác cũng có thể làm thay đổi tính pháp lí của xét nghiệm. Pha loãng, in vivo hoặc in vitro, cũng có thể được xác định bằng cách kiểm tra tỉ trọng nước tiểu. Việc cho thêm amoniac, giấm hoặc muối cũng có thể vô hiệu hoá xét nghiệm, tuy nhiên xác định mùi vị và độ pH là một việc đơn giản. Phân tích mẫu tóc cồ thể xác định được việc dùng ma tuý trong thời gian dài. Độ nhạy và độ tin cậy của các test này được xem là rất tốt và có thể bổ xung cho xét nghiệm phân tích nước tiểu.


Bài xem nhiều nhất

Tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần khác

Các rối loạn tâm thần phân liệt là nhóm các hội chứng rối loạn tư duy, khí sắc và toàn bộ hành vi cũng như là kém chọn lọc kích thích. Việc mô tả đặc điểm cũng như về mặt thuật ngữ của những rối loạn này còn đang rất tuỳ tiện và chịu ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá, xã hội và các trường phái tâm thần học khác nhau.

Rối loạn khí sắc (trầm cảm và hưng phấn) (chẩn đoán và điều trị)

Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng tâm thần phổ biến nhất ở người già là sa sút trí tuệ (hội chứng não thực thể) với các mức độ khác nhau.

Các rối loạn lo âu và rối loạn phân ly (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bằng những cơn lo âu trầm trọng ngắn, hồi phục tái phát, khó dự đoán, kèm theo những biến đổi sinh lý. Cũng có thể ám ảnh sợ khoảng trống.

Các rối loạn dạng cơ thể (những hành vi bệnh tật bất thường) (chẩn đoán và điều trị)

Dễ bị thương tổn ở một hoặc vài hệ thống cơ quan và tiếp xúc với những thành viên trong gia đình có các vấn đề dạng cơ thể sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển các triệu chứng đặc biệt và cặp song hành chức năng đối lập với thực thể là một trở ngại cho điều trị.

Phụ thuộc các chất kích thích amphetamin và cocain (chẩn đoán và điều trị)

Có một số người nghiện thuốc kích thích trở nên nhạy cảm với việc sử dụng các chất kích thích sau đó. Ở những người này, chỉ cần một lượng nhỏ chất kích thích nhẹ, ví dụ như caffein cũng có thể gây các ra triệu chứng paranoid và ảo thanh.

Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Phụ thuộc Caffein (chẩn đoán và điều trị)

Có nhiều điểm giống nhau giữa ngộ độc caffein và rối loạn lo âu. Một điểm chung khác giữa caffein và các chất kích thích khác là chúng lại làm nặng thêm các triệu chứng của tâm thần phân liệt bù trừ và bệnh nhân hưng - trầm cảm.

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Stress và rối loạn thích ứng (rối loạn tình huống)

Từng cá nhân có thể phản ứng lại với stress bằng trạng thái lo âu hoặc trầm cảm, phát hiện các triệu chứrig thực thể, chạy trốn hoặc uống rượu, bắt đầu các vụ áp phe hay một loạt các cách khác.

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức (hội chứng não thực thể)

Các rối loạn hành vi có xu hướng thường gặp ở những trường hợp dai dẳng, thường liên quan trực tiếp đến rối loạn nhân cách hoặc khả năng dễ bị tổn thương của hệ thần kinh trung ương do tác dụng phụ của thuốc và không nhất thiết tương quan với rối loạn nhận thức.

Rối loạn nhân cách (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn nhân cách được xem như là bảng ma trận của một số vấn đề tâm thần nặng nề. Ví dụ, dạng phân liệt, có liên quan đến phân liệt; dạng né tránh, có liên quan đến một số rối loạn lo âu.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.

Mất ngủ (chẩn đoán và điều trị)

Người bệnh có thể phàn nàn về việc khó vào giấc ngủ hoặc khó khăn trong việc duy trì giấc ngủ, có những khoảng thức giấc trong đêm hoặc thức dậy sớm hoặc kết hợp những hiện tượng đó.

Xem theo danh mục