Phụ thuộc thuốc gây nghiện (opioid) (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 20 - 1 - 2016

Để điều trị những trường hợp quá liều hoặc nghi quá liều có thể dùng naloxon 2 mg tiêm tĩnh mạch, nếu quá liều thì kết quả sẽ thể hiện rõ rệt trồng vòng 2 phút. Do khoảng thời gian tác dụng của naloxon ngắn hơn nhiều so với thuốc gây nghiện nên người bệnh phải được theo dõi sát.

Các chế phẩm có thuốc phiện (opioid) thuật ngữ “opioid” hoặc "các thuốc gây nghiện" (narcotics) có thể được sử dụng thay thế lẫn nhau vả bao gồm các thuốc có tác dụng giống morphin. Nhóm này bao gồm nhóm các dẫn xuất tự nhiên từ thuốc phiện (các opiat), các chế phẩm tổng hợp (các opioid) và nhiều loại polypeptid, trong số này có những loại được xem như chất dẫn truyền thần kinh tự nhiên. Thuốc gây nghiện cơ bản nhất là heroin (được điều chế từ morphin). Heroin là dạng thuốc cấm sử dụng. Những thuốc gây nghiện thông thường khác chỉ được phép dùng theo kê đơn, khác nhau về tiềm năng công dụng trong một miligam, khoảng thời gian tác dụng và khả năng chủ vận và đối kháng. Tất cả các thuốc giảm đau gây ngủ đều có thể bị đảo chiều do naloxon đối kháng gây ngủ.

Các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của ngộ độc thuốc gây nghiện mức nhẹ bao gồm độ thay đổi cảm xúc kèm theo những cảm giác sảng khoái bệnh lí; cảm giác buồn ngủ, buồn nôn kèm theo thỉnh thoảng có nôn; đom đóm mắt, co đồng tử. Tỉ lệ hít heroin tăng cao, nhất là những người sử dụng cocain. Sự trùng hợp đó cùng với giảm cơ hội tìm kiếm methaqualon (không còn bán nữa) và các thuốc an dịu khác đã đẩy liều cocain lên "cao”. Dùng quá liều sẽ gây ra ức chế hô hấp, giãn mạch ngoại vi, đồng tử thu hẹp, phù phổi, hôn mê và tử vong.

Cần phải đặc biệt chú ý đến sự phụ thuộc thuốc khi tiếp tục sử dụng thuốc ngủ, dù trạng thái cai chỉ gây ra tử vong ở mức độ thấp (chỉ giống như “cúm” ở mức độ nặng). Đôi khi người nghiện tự xem mình là nghiện hơn vả bản thân họ không cần phải được cai. Trạng thái cai được chia thành các mức độ từ 0 đến 4: mức 0 bao gồm thèm và lo âu; mức 1 - ngáp, chảy nước mắt, sổ mũi và vã mổ hôi; mức 2 - các triệu chứng trước đó cộng thêm giảm đồng tử, lông, tóc dựng ngược, chán ăn, run, các cơn nóng lạnh kèm theo đau lan toả; mức 3 và 4 - các triệu chứng trên có cường độ cao hơn, cộng thêm tăng thân nhiệt, tăng huyết áp, mạch nhanh thở nhanh, sâu. Phần lớn những trường hợp nghiện nặng, khi vào trạng thái cai đều có nôn, ỉa chảy, sút cân, máu cô đặc, xuất tinh hoặc cực khoái tự phát. Những biến chứng do dùng heroin thường có nhiễm khuẩn (ví dụ viêm phổi, viêm tắc mạch nhiễm khuẩn, viêm gan và nhiễm HIV do dùng chung kim tiêm), các hậu quả của sang chấn (ví dụ, cơn co thắt động mạch do tiêm thuốc, hoại thư) và phù phổi.

Để điều trị những trường hợp quá liều hoặc nghi quá liều có thể dùng naloxon 2 mg tiêm tĩnh mạch, nếu quá liều thì kết quả sẽ thể hiện rõ rệt trồng vòng 2 phút. Do khoảng thời gian tác dụng của naloxon ngắn hơn nhiều so với thuốc gây nghiện nên người bệnh phải được theo dõi sát. Cần phải điều trị nội trú, chăm sóc hỗ trợ, dùng nhắc lại naloxon và theo dõi trạng thái cai do thuốc khác cho đến khi nào thấy không cần thiết.

Trạng thái cai cần phải bắt đầu điều trị khi ở vào mức 2. Nếu cần có chương trình cai thì có thể dùng methadon, 10 mg uống (nếu bệnh nhân nôn thì dùng ngoài đường tiêu hoá) và theo dõi. Nếu các dấu hiệu (dựng lông, tóc, giãn đồng tử, những thay đổi tim mạch) kéo dài trên 4 - 6 giờ thì phải dùng nhắc lại 10 mg; tiếp tục dùng methadon với khoảng cách 4 hoặc 6 giờ cho đến khi hết các dấu hiệu (ít khi phải dùng trên 40 mg methadon trong 24 giờ). Chia đôi lượng thuốc cần dùng trong 24 giờ đầu thành và dùng cách 12 giờ/lần. Mỗi ngày lại giảm liều (24 giờ) xuống 5 - 10 mg. Như vậy đối với người nghiện vừa, cần liều methadon khởi đầu 30 - 40 mg thì có thể cai được sau 4 - 8 ngày. Có thể dùng thêm clonidin 0,1 mg vài lần/ngày, trong khoảng 10 - 14 ngày sẽ hỗ trợ tốt cho sự giải độc của methadon; không cần phải giảm liều từ từ. Clonidin còn có tác dụng làm giảm các triệu chứng tim mạch song không mấy tác dụng đối với lo âu, mất ngủ hoặc đau lan toả. Có thể có hội chứng ỳ trệ về chuyển hoá, hô hấp và thay đổi huyết áp kéo dài từ 3 - 6 tháng.

Những chiến lược để lựa chọn trong việc điều trị trạng thái cai opioid bao gồm những kĩ thuật giải độc nhanh và cực nhanh. Trong kĩ thuật giải độc nhanh, trạng thái cai bị thúc đẩy bởi các đối kháng opioid do sự duy trì naltrexon. Trong giải độc cực nhanh, giải quyết trạng thái cai là các đối kháng opioid do gây mê trong bệnh viện. Cho đến nay người ta vẫn chưa rõ ảnh hưởng của giải độc nhanh so với phương pháp truyền thống lên tỉ lệ tái phát.

Chương trình duy trì methadon cũng có giá trị nhất định đối với những trường hợp tái nghiện nhiều lần. Dùng methadon liều tương đối cao (40 - 120 mg/ngày), giám sát chặt đối với nghiện thuốc gây nghiện có thể giải toả được cơn thèm và phong toả những tác dụng của heroin ở mức độ cao.

Các đối kháng thuốc gây nghiện (ví dụ, naltrexon) cũng được dùng để điều trị cho những người không dùng opioid trong 5 - 7 ngày. Naltrexon phong toả khả năng gây nghiện cao của heroin với liều lượng 50 mg/24 giờ, đường uống trong vài ngày và sau đó 100 mg với khoảng cách 48 - 72 giờ. Chống chỉ định chính là những rối loạn về gan. Việc tuân thủ điều trị có khuynh hướng kém một phần là vì rối loạn khí sắc có thể dai dẳng sau khi dừng opioid.


Bài xem nhiều nhất

Tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần khác

Các rối loạn tâm thần phân liệt là nhóm các hội chứng rối loạn tư duy, khí sắc và toàn bộ hành vi cũng như là kém chọn lọc kích thích. Việc mô tả đặc điểm cũng như về mặt thuật ngữ của những rối loạn này còn đang rất tuỳ tiện và chịu ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá, xã hội và các trường phái tâm thần học khác nhau.

Rối loạn khí sắc (trầm cảm và hưng phấn) (chẩn đoán và điều trị)

Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng tâm thần phổ biến nhất ở người già là sa sút trí tuệ (hội chứng não thực thể) với các mức độ khác nhau.

Các rối loạn lo âu và rối loạn phân ly (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bằng những cơn lo âu trầm trọng ngắn, hồi phục tái phát, khó dự đoán, kèm theo những biến đổi sinh lý. Cũng có thể ám ảnh sợ khoảng trống.

Các rối loạn dạng cơ thể (những hành vi bệnh tật bất thường) (chẩn đoán và điều trị)

Dễ bị thương tổn ở một hoặc vài hệ thống cơ quan và tiếp xúc với những thành viên trong gia đình có các vấn đề dạng cơ thể sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển các triệu chứng đặc biệt và cặp song hành chức năng đối lập với thực thể là một trở ngại cho điều trị.

Phụ thuộc các chất kích thích amphetamin và cocain (chẩn đoán và điều trị)

Có một số người nghiện thuốc kích thích trở nên nhạy cảm với việc sử dụng các chất kích thích sau đó. Ở những người này, chỉ cần một lượng nhỏ chất kích thích nhẹ, ví dụ như caffein cũng có thể gây các ra triệu chứng paranoid và ảo thanh.

Phụ thuộc Caffein (chẩn đoán và điều trị)

Có nhiều điểm giống nhau giữa ngộ độc caffein và rối loạn lo âu. Một điểm chung khác giữa caffein và các chất kích thích khác là chúng lại làm nặng thêm các triệu chứng của tâm thần phân liệt bù trừ và bệnh nhân hưng - trầm cảm.

Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Stress và rối loạn thích ứng (rối loạn tình huống)

Từng cá nhân có thể phản ứng lại với stress bằng trạng thái lo âu hoặc trầm cảm, phát hiện các triệu chứrig thực thể, chạy trốn hoặc uống rượu, bắt đầu các vụ áp phe hay một loạt các cách khác.

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức (hội chứng não thực thể)

Các rối loạn hành vi có xu hướng thường gặp ở những trường hợp dai dẳng, thường liên quan trực tiếp đến rối loạn nhân cách hoặc khả năng dễ bị tổn thương của hệ thần kinh trung ương do tác dụng phụ của thuốc và không nhất thiết tương quan với rối loạn nhận thức.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.

Rối loạn nhân cách (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn nhân cách được xem như là bảng ma trận của một số vấn đề tâm thần nặng nề. Ví dụ, dạng phân liệt, có liên quan đến phân liệt; dạng né tránh, có liên quan đến một số rối loạn lo âu.

Mất ngủ (chẩn đoán và điều trị)

Người bệnh có thể phàn nàn về việc khó vào giấc ngủ hoặc khó khăn trong việc duy trì giấc ngủ, có những khoảng thức giấc trong đêm hoặc thức dậy sớm hoặc kết hợp những hiện tượng đó.

Xem theo danh mục