Những biến chứng ngoại khoa trong thai nghén

Ngày: 12 - 12 - 2016

Sẩy thai không phải là mối nguy cơ nghiêm trọng sau mổ trừ viêm phúc mạc hoặc những biến chứng quan trọng khác. Thiếu oxy trong quá trình phát triển của thai trong quí đầu có thể dẫn đến dị dạng bẩm sinh. Như vậy quí hai thường là thời gian thích hợp để tiến hành phẫu thuật.

Đại phẫu thuật nên tránh trong thời kỳ thai nghén. Thái nghén bình thường không biến chứng không làm thay đổi nguy cơ phẫu thuật trừ khi nó có thể ảnh hưởng tối chẩn đoán, những rối loạn ở bụng và tăng những khó khăn kỹ thuật trong phẫu thuật ở bụng. Sẩy thai không phải là mối nguy cơ nghiêm trọng sau mổ trừ viêm phúc mạc hoặc những biến chứng quan trọng khác. Thiếu oxy trong quá trình phát triển của thai trong quí đầu có thể dẫn đến dị dạng bẩm sinh. Như vậy quí hai thường là thời gian thích hợp để tiến hành phẫu thuật.

Viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa xảy ra vào khoảng 1: 5000 trường hợp thai nghén - Chẩn đoán khó vì ruột thừa bị kéo lên cao và sang phải, ra xa khỏi điểm Mc Burney vì tử cung to ra và sự khu trú và tăng bạch cầu xảy ra một cách đều đặn. Bất kỳ đau bụng bên phải kết hợp với những triệu chứng này đều phải nghi ngờ. Ít nhất có tới 20% sản phụ không được chẩn đoán viêm ruột thừa cho đến khi vỡ và viêm phúc mạc. Sự chậm trễ như thế có thể dẫn đến đẻ non hoặc sẩy thai. Với chẩn đoán sớm và cắt bỏ ruột thừa, tiên lượng tốt cho mẹ và con.

Ung thu vú

Ung thư vú được chẩn đoán xấp xỉ 1: 3500 trường hợp thai nghén. Thai nghén có thể làm nhanh thêm sự phát triển ung thư vú và làm chậm trễ việc chẩn đoán ảnh hưởng đến kết quả điều trị một cách đáng kể. Carcinoma viêm nhiễm là một loại ung thư vú cực kỳ ác tính thường hay xảy ra nhất trong thời gian tiết sữa. Chụp vú trước khi mang thai nên được khuyến khích đối với phụ nữ trên 35 tuổi đang dự định có thai.

Vú to ra trong khi có thai làm che khuất những khối nhu mô và quá sản tổ chức vú làm giảm sự chính xác của chụp X quang vú. Bất kỳ một khối riêng biệt nào cũng nên được đánh giá bàng cách chọc hút để kiểm tra cấu trúc của nang bằng một kim sinh thiết nhỏ nếu như tổ chức đó rắn. Chẩn đoán xác định có thể cần phải lấy một mảnh sinh thiết dưới gây tê tại chỗ. Nếu sinh thiết vú khẳng định chẩn đoán ung thư thì phẫu thuật; phải được thực hiện không cần xem xét giai đoạn thai nghén. Nếu lan truyền đến các tuyến khu vực xảy ra, vấn đề tia xạ và hóa liệu pháp nên được xem xét. Với những tình huống này, cần lựa chọn giữa đinh chỉ thai nghén sớm hoặc chậm điều trị nếu thai đã lớn.

Bệnh sỏi ống mật chủ, viêm túi mật và ứ mật tự phát do thai nghén

Bệnh sỏi ống mật chủ nặng và viêm túi mật không hay gặp trong thời kỳ thai nghén. Nếu có cũng xảy ra ở giai đoạn thai nghén muộn hoặc thời kỳ hậu sản. Khoảng 90% bệnh nhân bị viêm túi mật có sỏi túi mật, 90% sỏi phát hiện được bằng siêu âm. Cần phải điều trị triệu chứng giảm đau trong tất cả các trường hợp.

Phẫu thuật túi mật ở phụ nữ có thai chỉ nên cố gắng thực hiện ở một số trường hợp đặc biệt (như tắc mật), bởi vì nó làm tăng tỷ lệ tử vong chu sinh vào khoảng 15%. Mở thông túi mật và lấy sỏi có thể là tất cả những điều có thể làm được trong thời kỳ thai nghén sớm. Cắt bỏ túi mật nên lùi lại sau đẻ. Mặt khác, trì hoãn phẫu thuật có thể dẫn đến hoại tử, thủng túi mật và viêm phúc mạc. Viêm đường mật do ảnh hưởng của sỏi ống mật chủ đòi hỏi phẫu thuật lấy sỏi và đật ống dẫn lưu mật. Chụp đường mật tụy ngược dòng bằng nội soi và thủ thuật mở cơ thắt ngược dòng bằng nội soi có thể được thực hiện một cách an toàn ở những phụ nữ có thai nếu được đề phòng làm hạn chế tối thiểu chiếu xạ.

Bệnh ứ mật tự phát trong thai nghén là do suy giảm chuyển hóa (gan) di truyền bị nặng thêm bởi nồng độ estrogen cao trong khi có thai. Điều đó gây ra tắc mật trong gan ở các mức độ khác nhau. Sự tăng acid mật trong quý ba đủ để làm cho bệnh nặng, khó kiểm soát, ngứa toàn thân và đôi khi vàng da lâm sàng. Có thể có tăng nhẹ bilirubin máu và phosphatase kiềm. Thai nhi nhìn chung không bị ảnh hưởng mặc dù tỷ lệ đẻ non tăng lên đã được báo cáo. Những chất nhựa gắn như là cholestyramin (4g ba lần một ngày) hấp phụ acid mật trong đại tràng và làm giảm chứng ngứa tuy là khó uống và có thể gây ra táo bón. Việc sử dụng chúng đòi hỏi phải bổ sung bằng vitamin K. Sự rối loạn sẽ giảm đi một khi đứa trẻ đã được đẻ ra, nhưng nó lại tái phát ở những lần thai nghén tiếp theo và đôi khi tái phát do uống thuốc tránh thai.

Những khối u buồng trứng

Khối u, phần phụ hay gặp nhất trong giai đoạn thai nghén sớm là hoàng thể, nó có thể trở thành nang và lớn tới 6cm đường kính. Bất kỳ một khối nào trên 6cm tồn tại lâu nên được đánh giá bằng siêu âm; những nang một thùy có thể là nang hoàng thể, trong khi những khối u có vách ngăn hoặc nửa rắn nửa mềm có thể là khối u tân tạo. Tỷ lệ ác tính của những khối u buồng trứng trên 6cm đường kính là 2,5%. Những khối u buồng trứng có thể bị xoắn và gây đau bụng, buồn nôn, nôn và phải được chẩn đoán phân biệt với viêm ruột thừa, bệnh tiêu hóa khác và chửa ngoài tử cung. Những bệnh nhân nghi ngờ ung thư buồng trứng nên đươc gửi đến nhà ung thư học phụ khoa để xác định liệụ thai nghén có thể tiếp tục đến khi thai có khả năng sống được hay là việc điều trị nên được tiến hành không chậm trễ.


Bài xem nhiều nhất

Tiền sản giật và sản giật (chẩn đoán và điều trị)

Không có cách can thiệp nào tỏ ra là có giá trị để làm giảm tần suất xẩy ra hay tính nghiêm trọng của quá trình qua nghiên cứu một cách khách quan bao gồm lọt tiểu, chế độ ăn hạn chế hoặc tăng cao, hạn chế muối, và bổ sung vitamin khoáng.

U nguyên bào nuôi do thai (chửa trúng và ung thư nguyên bào nuôi)

Chửa trứng bán phần có xu hướng theo sau là giai đoạn lành tính, trong khi chửa trứng toàn phần có khuynh hướng đa số trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

Sẩy thai tự nhiên (chẩn đoán và điều trị)

Vào khoảng một phần tư các trường hợp, nguyên nhân sẩy thai không thể xác định được. Hiện nay không có chứng cớ rằng đầu máy video hoặc lĩnh vực điện tử phối hợp liên quan đến vấn đề tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên.

Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt thai nghén

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Chửa ngoài tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm máu có thể cho thấy thiếu máu và hơi tăng bạch cằu. Thử nghiệm thai nghén định lượng trong huyết thanh nói chung cho thấy có mức độ thấp hơn so với thai nghén bình thường cùng tuổi thai.

Dinh dưỡng trong khi có thai

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Cho con bú (nuôi con bằng sữa mẹ)

Cho bú thường xuyên đòi hỏi phải có giờ giấc để tăng cường tiết sữa và cho bú có kết quả. Việc nuôi dưỡng bằng sữa mẹ giúp ích về mặt thời gian, đầu tiên, được các thầy thuốc, y tá và các bà mẹ nuồi con bằng sữa mẹ ủng hộ.

Viêm vú hậu sản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm vú thường bắt đầu trong vòng ba tháng sau đẻ và có thể bắt đâu với một vết thương hay nứt núm vú. Có sự viêm mô tế bào rõ ràng ở vùng tổ chức vú, với biểu hiện đỏ, sưng, nóng tại chỗ và sốt.

Đề phòng chuyển dạ đẻ non (chẩn đoán và điều trị)

Giáo dục bệnh nhân để nhận biết những cơn co tử cung đều đặn thường xuyên bằng cách báo động cho nhân viên y tế để đánh giá những bệnh nhân hây sớm và bắt đầu điều trị sẽ hạ thấp tỷ lệ đẻ non, nếu như những biến đổi cổ tử cung có thể được nhận thấy.

Những vấn đề cơ bản chăm sóc trước đẻ

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Nôn trong thai nghén (nôn vào buổi sáng nặng ác tính)

Nôn nặng, dai dẳng trong khi có thai gọi là chứng nôn nghén nặng, có thể làm cho kiệt quệ cần phải nằm viện. Sự mất nước, nhiễm toan, suy dinh dưỡng có thể phát triển cùng với sự nôn mửa kéo dài.

Chảy máu trong quý ba thai kỳ (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo.

Sẩy thai liên tiếp (chẩn đoán và điều trị)

Sẩy thai liên tiếp là chấn đoán lâm sàng đúng hơn là chẩn đoán bệnh lý. Những dấu hiệu lâm sàng cũng tương tự như những điều được quan sát thấy ở các loại sẩy thai khác.

Du lịch và tiêm chủng trong khi có thai

Gama globulin lưu trữ để ngăn ngừa viêm gan A là an toàn và không mang lại nguy cơ lây truyền HIV. Chloroquin có thể được sử dụng đề phòng bệnh sốt rét trong khi mang thai, và proguanil cũng an toàn.

Đề phòng huyết tán của trẻ sơ sinh (bệnh nguyên hồng cầu thai nhi)

Những phần tử kháng thể quá lớn không qua được qua rau thai và ảnh hưởng đến thai có Rh dương tính. Độ thanh thải globulin của người mẹ đủ thấp để tiếp tục bảo vệ được 12 tuần.