Thuốc tránh thai uống

Ngày: 9 - 12 - 2016

Cũng nên có một phương pháp dự phòng trong chu kỳ dùng thuốc đầu tiên trong trường hợp uống thuốc muộn sau ngày thứ 5. Thuốc tránh thai uống liều thấp không có chống chỉ định dùng kéo dài đối với những phụ nữ 35 - 40 tuổi, không hút thuốc lá và không có chống chỉ định gì.

Hạn chế có thai một cách tự nguyện làm lợi cho những người phụ nữ, cho cả những người đàn ông và con cái của họ. Tránh thai cần đáp ứng được với tất cả mọi phụ nữ và nam giới trong tuổi sinh đẻ. Giáo dục về tránh thai và sự tiếp cận với các viên thuốc tránh thai hay dụng cụ tử cung là đặc biệt quan trọng đối với những nam nữ thanh niên dưới 20 tuổi và đối với những phụ nữ sau đẻ, sau sảy.

Giáo dục về bệnh lây truyền theo đường tình dục, đặc biệt AIDS cần đước tiến hành cho tất cả những ai có hoạt động tình dục song song song với việc thông báo rằng bao cao su dùng kèm với thuốc diệt tinh trùng có độ bảo vệ cao (nhưng không bảo vệ hoàn toàn) cho cả hai giới chống lại bệnh lây truyền theo đường tinh dục cũng như tránh thai. Dịch AIDS lan rộng trên thế giới đã tạo ra sự thay đổi xu hướng một cách có ý nghĩa sang sử dụng bao cao su cộng với thuốc diệt tinh trùng.

Thuốc tránh thai uống viên kết hợp

Hiệu quà và phương pháp sừ dụng

Thuốc tránh thai uống (viên thuốc sinh đẻ có kế hoạch) có tỉ lệ thất bại lý thuyết dưới 0,5% nếu sử dụng tuyệt đối theo phác đồ và một tỷ lệ thất bại điển hình là 3%. Cơ chế tác dụng chủ yếu là ức chế phóng noãn. Thuốc bắt đầu uống vào ngày thứ nhất hay ngày thứ năm của vòng kinh và uống hàng ngày trong 21 ngày, tiếp theo là 7 ngày uống các viên đệm hay không uống thuốc và phác đồ này lại tiếp tục cho mỗi chu kỳ về sau. Thường bắt đầu uống thuốc vào ngày thứ bảy của tuần đầu tiên sau khi bắt đầu hành kinh. Như thế sẽ giúp cho người phụ nữ dễ nhớ ngày bắt đầu sau này và tránh được hành kinh vào cuối tuần. Nếu quên uống một viên vào bất kỳ thời điểm nào, ngày hôm sau phải uống thành 2 viên và phải áp dụng thêm phương pháp tránh thai khác cho đến hết vòng kinh (bao cao su hay bọt diệt tinh trùng).

Cũng nên có một phương pháp dự phòng trong chu kỳ dùng thuốc đầu tiên trong trường hợp uống thuốc muộn sau ngày thứ 5. Thuốc tránh thai uống liều thấp không có chống chỉ định dùng kéo dài đối với những phụ nữ 35 - 40 tuổi, không hút thuốc lá và không có chống chỉ định gì. Kiểm tra huyết áp, chụp vú, kiểm tra lipid huyết và đường huyết thường xuyên.

Lợi ích của thuốc tránh thai uống

Ngoài việc tiện dụng, tác dụng tránh thai có hiệu quả, thuốc tránh thai uống còn có những lợi ích khác không thuộc phạm vi tránh thai. Lượng máu kinh ít hơn, ít gây thiếu máu hơn và thống kinh được giảm nhẹ đi khi dùng thuốc tránh thai uống và không làm xuất hiện những u nang mới. Đau trong khi phóng noãn và sau khi phóng noãn cũng giảm đi.

Nguy cơ ung thư buồng trứng và ung thư niêm mạc tử cung giảm. Các nguy cơ viêm vòi trứng và chửa ngoài tử cung có thể giảm. Trứng cá thường được cải thiện. Đối với những người dùng lâu (trên 4 năm), tỷ lệ mắc u xơ tử cung thấp đi.

Sự lựa chọn thuốc tránh thai uống

Bất cứ thuốc tránh thai uống loại kết hợp chứa estrogen dưới 50 µg đều thích hợp cho đa số các phụ nữ. Những phụ nữ đang uống những viên thuốc chứa 50 µg estrogen trở lên cần chuyển sang các viên có liều thấp hơn vì nhiều tác dụng phụ có liên quan đến liều của thuốc. Có vài sự khác nhau về hiệu lực của các progestin chứa trong các viện thuốc nhưng về lâm sàng không có sự khác nhau có ý nghĩa đối với phần lớn các phụ nữ. Những phụ nữ có trứng cá hay có rậm lông có thể dùng những viên thuốc chứa các progestin mới, desogestrel hay norgestimate vì chúng có ít tác dụng androgen nhất. Liều estrogen trong các viên thuốc tránh thai uống đã cao hơn hoặc bằng 4 lần so với những chế phẩm estrogen dùng trong thời kỳ mãn kinh, và cũng vì lý do ấy, các tác dụng phụ do các viên thuốc tránh thai có thể thấy trước là nhiều hơn.

Tương tác của thuốc

Có nhiều thuốc tương tác với thuốc tránh thai uống, làm giảm hiệu lực của chúng bằng cách gây ra sự tạo các enzym mirosom trong gan, làm tăng globulin mang hormon sinh dục và bằng những cơ chế khác. Một số thuốc hay được mô tả trong loại này là những thuốc chống co giật phenytoin, phenobarbịtal (và các barbiturat khác), primidon, carbamazepin và thuốc chống lao rifampin. Những phụ nữ dùng những thuốc này cần dùng những biện pháp tránh, thai khác cho được an toàn tối đạ.

Các chống chỉ định và các tác dụng phụ

Các thuốc tránh thai uống đã đi cùng với nhiều tác dụng, đối nghịch; trong một số trường hợp, chúng có chống chí định và cần được dùng một cách cẩn thận trong một số trường hợp khác.

Bảng. Các chống chỉ định sử dụng thuốc tránh thai uống

Những chống chi định tuyệt đối

Có thai.

Viêm tắc tĩnh mạch hay các rối loạn do viêm tắc tĩnh mạch (trong quá khứ hay hiện tại). Đột qụy hay bệnh động mạch vành (trong quá khứ hay hiện tại).

Ung thư vú (đã biết rõ hay nghi ngờ).

Chảy máu âm đạo bất thường không rõ nguyên nhân.

Ung thư phụ thuộc estrogen (đã biết rõ hay nghi ngờ).

Khối u gan lành tính hay ác tính (trong quá khứ hay hiện tại).

Những chống chỉ định tương đối

Trên 35 tuổi và nghiện thuốc lá nặng (trên 15 điếu mỗi ngày).

Đau nừa đầu hoặc đau đầu bị đi bịlại, đau đầu nặng.

Tăng huyết áp.

Bệnh tim hay bệnh thận.

Đái tháo đường.

Bệnh túi mật. Ứ mật trong khi có thai.

Viêm gan đang phát triển hay viêm nhiễm bạch cầu đơn nhân.

Bệnh tế bào liềm (loại S/S hay S/C).

Mổ, gãy xương hay bị thương nặng.

Đang cho con bú.

Trầm cảm tâm thần đáng kể.      

Báo như đau đàu dữ dội, mờ mắt hay mất thị giác hoặc có những rối loạn thần kinh thoảng qua đều cần ngừng dùng thuốc tránh thai uống.

(1) Ung thư

Trong một số nghiên cứu, người ta thấy có mối liên quan giữa thời gian sử dụng lâu dài (3 - 4 năm) thuốc uống tránh thai với sự xuất hiện dị sản cổ tử cung và ung thư. Không thấy có mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc tránh thai uống và ung thư vú. Các viên thuốc tránh thai tỏ ra bảo vệ chống ung thư niêm mạc tử cung và ung thư buồng trứng. Hiếm thấy có mối liên quan của thuốc uống tránh thai với việc phát sinh các u gan lành tính và ác tính, có thể dẫn đến vỡ gan, chảy máu và tử vong. Nguy cơ tăng lên cùng với liều dùng cao, thời gian dùng dài và tuổi đời cao.

(2) Bệnh túi mật

Có một sự tăng nguy cơ bị bệnh túi mật và đòi hỏi phải phẫu thuật cắt bỏ túi mật do có sỏi cholesterol ở những người dùng viên thuốc tránh thai.

(3) Những rối bạn chuyển hóa

Hiện tượng giảm dung nạp glucose và tăng hàm lượng triglycerid đã được nhận thấy ở những người dùng viên thuốc tránh thai, những phụ nữ bị bệnh đái tháo đường cần được giám sát cẩn thận.

(4) Tăng huyết áp

Thuốc tránh thai uống có thể gây tăng huyết áp trong một số phụ nữ. Nguy cơ tăng lên theo độ dài thời gian sử dụng và theo độ cao của tuổi tác. Những phụ nữ có tăng huyết áp xuất hiện trong khi dùng thuốc tránh thai uống cần phải áp dụng biện pháp tránh thai khác. Tuy nhiên, nếu theo dõi huyết áp hàng ngày, lại không hút thuốc, tuổi dưới 40, kiểm tra cẩn thận huyết áp dù hơi tăng cũng có thể dùng thuốc tránh thai.

(5) Đau đầu

Đau nửa đầu hay đau đầu nguyên do mạch máu có thể xảy ra hay xấu đi trong khi sử dụng thuốc. Nếu đau đầu trầm trọng hoặc đau đầu thường xuyên trong khi dùng thuốc thì phải ngừng dùng.

(6) Vô kinh

Vô kinh sau dùng thuốc thỉnh thoảng kéo dài một năm hay hơn, đôi khi có kèm theo tiết sữa. Cần định lượng prolactin, nếu thấy cao, có thể có u tuyến yên sinh prolactin.

(7) Rối bạn tiết sữa

Thuốc tránh thai uống viên kết hợp có thể làm suy giảm về lượng chất của sữa. Tốt nhất là tránh dùng thuốc tránh thai viên kết hợp khi cho con bú, mặc dù nếu dùng khi cho bú thì ảnh hưởng lên lượng sữa tiết cũng không đáng kể và không làm phát sinh những bất thường ở trẻ. Không nên bắt đầu uống thuốc tránh thai viên dạng phối hợp trước sáu tuần của thời kỳ hậu sản để ổn định chế tiết của sữa. Các viên thuốc chỉ chứa progestin, cấy levonorgestrel và depot medroxyprogesteron acetat có thể dùng xen kẽ.

(8) Những tác dụng phụ nhỏ

Buồn nôn và chóng mặt có thể xảy ra trong vài tháng đầu dùng thuốc. Tăng cân hay gặp. Ra huyết thấm giọt, chảy máu giữa hai kỳ kinh có thể xảy ra, đặc biệt trong trường hợp quên uống thuốc hoặc uống thuốc chậm có thể giải quyết bằng cách thay thuốc khác có hiệu lực cao hơn một chút. Có thể mất kinh, đặc biệt trong trường hợp dùng những viên liều thấp. Cần thử test thai nghén trong trường hợp quên uống thuốc hoặc mất hai kỳ kinh liền hoặc lâu hơn. Suy sụp, mệt mỏi, giảm dục tình có thể xảy ra. Rám má có thể gặp như khi có thai và tăng lên khi phơi dưới ánh mặt trời.

Viên mini progestin

Hiệu lực và các phương pháp sử dụng

Các dạng thuốc chứa 0,35mg norethindron hay 0,075 mg norgestrel sẵn có ở Mỹ. Hiệụ quả hơi thấp hơn thuốc tránh thai uống viên dạng kết hợp với tỉ lệ thất bại 1- 4%. Tác dụng tránh thai của viên mini được coi là do làm đặc chất nhầy cổ tử cung khiến tinh trùng khó thâm nhập, làm ảnh hưởng đến khả năng di chuyển của trứng (tính bằng tỉ lệ chửa ngoài tử cung có tăng lên đối với những viên thuốc này) và ức chế làm tổ. Phóng noãn không chắc chắn được ức chế. Viên mini được bắt đầu uống vào ngày thứ nhất của vòng kinh và uống liên tục chừng nào còn muốn tránh thai.

Thuận lợi

Dùng liều thấp và không có estrogen nên đã làm viên mini trở nên an toàn trong trong thời gian cho con bú. Nó có thể làm tăng lượng sữa tiết. Nó thường được thử dùng bởi những phụ nữ trên 35 tuổi. Viên mini có thể dùng cho những phụ nữ có u xơ tử cung hay bệnh tế bào hình liềm (S/S hay S/C). Cũng như viên kết hợp, viên mini làm giảm khả năng sinh bệnh viêm nhiễm tiểu khung do tác dụng của nó lên chất nhầy cổ tử cung.

Các biện chứng và các chống chỉ định

Những người sử dụng viên mini thường có ra huyết bất thường (thí dụ rong kinh, ra huyết thấm giọt, vô kinh). Có những người cần thử test thai nghén hàng tháng. Chửa ngoài tử cung hay gặp hơn và hễ có đau bụng thì cần được lưu tâm nghiên cứu. Các chống chỉ định tuyệt đối và nhiều chống chỉ định tương đối đã được áp dụng cho viên mini. Những ngoại lệ được nêu ở trên. Những tác dụng phụ nhẹ gặp trong thuốc tránh thai viên kết hợp như tăng cân và đau đầu nhẹ cũng có thể gặp đối với viên mini.


Bài xem nhiều nhất

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích. Nếu đã thành áp xe, hút hoặc rạch và dẫn lưu là hình thức điều trị đơn giản nhất, nhưng có thể bị đi bị lại.

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung. Tất cả những thương tổn nhìn thấy bất thường của cổ tử cung cần được sinh thiết.

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán đang bàn cãi như chửa ngoài tử cung hay viêm ruột thừa.

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, khối u tân tạo buồng trứng và u xơ tử cung. Nhìn chung, chỉ có viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng, tiếp theo là kiểm tra tế bào học của âm đạo (cả 4 góc của nửa trên âm đạo) và cổ tử cung hàng năm.

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Xem theo danh mục