Không phóng noãn liên tục (hội chứng buồng trúng đa nang, hội chứng Stein Leventhal)

Ngày: 8 - 12 - 2016

Ở những bệnh nhân béo bệu có buồng trứng đa nang, điều trị bằng cách làm giảm cân thường có hiệu quả, giảm mỡ cơ thể sẽ làm giảm thấp sự chuyển đổi androgen thành estron và liệu pháp giúp cho phục hồi sự phóng noãn.

Những yếu tố cần thiết trong chẩn đoán

Không phóng noãn mạn tính.

Vô sinh.

Testosteron huyết tương và giá trị LH tăng vàtỷ lệ FSH/LH đảo ngược.

Rậm lông (70% bệnh nhân).

Nhận xét chung

Hội chứng buồng trứng đa nang là sự rối loạn nội tiết hay gặp chiếm 2 - 5% phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Thương tổn nguyên thủy chưa được biết rõ. Những bệnh nhân này có tình trạng estrogen, androgen và mức LH cao tương đối hằng định hơn là tình trạng dao động thấy được ở những phụ nữ có phóng noãn. Nồng độ estron tăng do béo bệu (chuyển đổi androgen của buồng trứng và thượng thận thành estron trong mỡ của cơ thể) hoặc do sự dư thừa androgen thấy được ở một số phụ nữ có trọng lượng bình thường. Người ta nghĩ rằng nồng độ estron cao làm giảm chế tiết FSH tuyến yên và tăng chế tiết tương đối LH. Sự kích thích LH liên tục của buồng trứng dẫn đến không phóng noãn, nhiều nang và quá sản tế bào nang noãn kèm theo tăng sản sinh androgen. Buồng trứng đa nang có vỏ dầy, màu trắng óng ánh như xà cừ và có thể không to.

Những phụ nữ có hội chứng Cushing, quá sản tuyến thượng thận bẩm sinh và những khối u tuyến thượng thận chế tiết androgen cũng có nồng độ androgen tuần hoàn cao và không phóng noãn kèm theo buồng trứng đa nang.

Phát hiện lâm sàng

Hội chứng buồng trứng đa nang được biểu hiện bằng rậm lông (70% các trường hợp), béo phệ (40%), nam tính hóa (20%). Năm mươi phần trăm bệnh nhân mất kinh, 30% chảy máu tử cung bất thường và 20% kinh nguyệt bình thường. Thêm vào đó, các bệnh nhân có biểu hiện kháng insulin và tăng insulin huyết khi được truyền glucose. Nhìn chung các bệnh nhân thường bị vô sinh, mặc dù đôi khi họ có thể có phóng noãn. Họ bị tăng nguy cơ kéo dài đối với ung thư vú và niêm mạc tử cung do có sự chế tiết estrogen không bị chống kháng (bởi progesteron).

Chẩn đoán phân biệt

Hiện tượng không phóng noãn ở tuổi sinh đẻ cũng có thể do: (1) mãn kinh sớm (nồng độ FSH và LH cao), (2) giảm thể trọng nhanh chóng hoặc cố gắng thể lực quá mức (nồng độ FSH và LH bình thường đối với tuổi), (3) uống thuốc tránh thai không liên tục (không phóng noãn trong 6 tháng hoặc hơn đôi khi xảy ra), (4) u tuyến yên với prolactin cao (tiết sữa có thể hoặc không), (5) cường hoặc thiểu năng giáp trạng. Luôn luôn kiểm tra nồng độ FSH, LH, prolactin, TSH, testosteron và dehydroepiandrosteron sunfat (DHEAS) khi mất kinh kéo dài 6 tháng hoặc hơn mà không chẩn đoán được. Một đợt 10 ngày progestin (ví dụ, medroxyprogesteron acetat 10mg/ngày) sẽ gây chảy máu nếu như nồng độ estrogen cao. Điều này sẽ giúp cho chẩn đoán và ngăn ngừa quá sản niêm mạc tử cung, ở những bệnh nhân trên 35 tuổi không phóng noãn kéo dài nên thận trọng kiểm tra ung thư do kích thích estrogen bằng chụp tuyến vu và hút niêm mạc tử cung.

Điều trị

Ở những bệnh nhân béo bệu có buồng trứng đa nang, điều trị bằng cách làm giảm cân thường có hiệu quả, giảm mỡ cơ thể sẽ làm giảm thấp sự chuyển đổi androgen thành estron và liệu pháp giúp cho phục hồi sự phóng noãn.

Nếu bệnh nhân mong muốn có thai, clomiphen hoặc các thuốc khác có thể được sử dụng để kích thích phóng noãn. Sự phóng noãn cũng có thể được phục hồi ở một bệnh nhân bằng dexamethason 0,5mg mỗi tối.

Cắt góc buồng trứng thường đạt kết quả phục hồi sự phóng noãn và khả năng sinh đẻ, mặc dù hiện nay liệu pháp này ít được sử dụng hơn so với các phương pháp điều trị nội khoa hiện có.

Nếu bệnh nhân không muốn có thai thì cho dùng medroxyprogesteron acetat 10 mg/ngày trong 10 ngày đầu của tháng. Điều đó sẽ đảm bảo bong niêm mạc tử cung đều đặn vài hiện tượng quá sản sẽ không xảy ra. Nếu muốn tránh thai, thì viên thuốc tránh thai phối hợp liều thấp có thể sử dụng được. Điều này cũng có ích khống chế rậm lông, điều trị như thế phải được kéo dài 6 - 12 tháng trong trường hợp chưa thấy kết quả. Chứng rậm lông có thể được xử lý bằng cách nhổ lông và điện phân. Dexamethason 0,5mg mỗi tối là có ích với những phụ nữ tăng tiết androgen thượng thận. Nếu như chứng rậm lông nghiêm trọng, một số bệnh nhân sẽ chọn cắt tử cung và hai phần phụ, sau đấy dùng liệu pháp estrogen thay thế. Spironolacton, một tác nhân đối kháng aldosteron cũng có ích đối với chứng rậm lông với liều 25mg ba đến bốn lần mỗi ngày.


Bài xem nhiều nhất

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích. Nếu đã thành áp xe, hút hoặc rạch và dẫn lưu là hình thức điều trị đơn giản nhất, nhưng có thể bị đi bị lại.

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung. Tất cả những thương tổn nhìn thấy bất thường của cổ tử cung cần được sinh thiết.

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán đang bàn cãi như chửa ngoài tử cung hay viêm ruột thừa.

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, khối u tân tạo buồng trứng và u xơ tử cung. Nhìn chung, chỉ có viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng, tiếp theo là kiểm tra tế bào học của âm đạo (cả 4 góc của nửa trên âm đạo) và cổ tử cung hàng năm.

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Xem theo danh mục