Ung thư âm hộ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 7 - 12 - 2016

Cũng như những tổn thương tế bào lát của cổ tử cung, sự loạn sản ở các mức nặng nhẹ khác nhau của âm hộ bây giờ đã được nhận biết. Hệ thống phân độ về sự tạo u trong biểu mô âm hộ (VIN) từ loạn sản nhẹ đến ung thư tại chỗ đã được xác định.

Những yếu tố cần thiết trong chẩn đoán

Tiền sử nổi mụn cóc sinnh dục.

Tiền sử kích thích âm hộ kéo dài kèm theo ngứa, khó chịu tại chỗ hoặc tiết ít máu.

Những thương tổn sớm có thể gợi ý hoặc bao gồm những rối loạn biểu mô không phải tân tạo.

Những thương tổn về sau biểu hiện như một khối, phát triển lồi ra ngoài, hoặc một vùng chắc, loét ở âm hộ.

Sinh thiết là cần thiết để chẩn đoán.

Nhận định chung

Đại đa số ung thư âm hộ là thương tổn biểu mô lát mà những tổn thương đó kinh điển xảy ra ở những phụ nữ trên 50 tuổi. Vài ba loại không điển hình (đặc biệt 6, 16 và 18) virus papilloma của người đã được phát hiện ở một số nhưng không phải tất cả những ung thư âm hộ. Cũng như những tổn thương tế bào lát của cổ tử cung, sự loạn sản ở các mức nặng nhẹ khác nhau của âm hộ bây giờ đã được nhận biết. Hệ thống phân độ về sự tạo u trong biểu mô âm hộ (VIN) từ loạn sản nhẹ đến ung thư tại chỗ đã được xác định.

Chẩn đoán phân biệt

Sinh thiết là cần thiết để chẩn đoán ung thư âm hộ và nên được thực hiện với bất kỳ một tổn thương khu trú không điển hình nào của âm hộ kể cả vết trắng. Những mẫu bệnh phẩm có thể được lấy ở bệnh phòng dưới gây tê tại chỗ, cẩn thận để lấy được tổ chức từ các góc của mỗi một mẫu tổn thương.

Những tổn thương âm hộ lành tính phải được loại trừ trong chẩn đoán ung thư âm hộ bao gồm những thương tổn u hạt mạn tính (ví dụ bệnh Nicolas - Favre, giang mai), những khối kết hạch âm hộ, sùi mào gà, u tuyến mồ hôi hoặc u xơ thắn kinh. Chứng u xơ teo, xơ cứng liken và những biến đổi bạch sản khác phối hợp ở da nên được sinh thiết. Khả năng mà ung thư âm hộ được đặt ra sẽ phát triển ở một phụ nữ có rối loạn không phải biểu mô tân tạo (loạn dưỡng âm hộ) khoảng từ 1 đến 5%.

Điều trị

Những biện pháp chung

Chẩn đoán sớm và điều trị những nguyên nhân kích thích hoặc khuynh hướng mắc bệnh khác hoặc những nguyên nhân góp phần dẫn đến ung thư âm hộ cần được khai thác triệt để. Kết hợp tỷ lệ 7: 3 của beta methason và Crotamiton có hiệu quả đặc biệt đối với ngứa. Sau khi có sự đáp ứng ban đầu thì steroid có chứa flor nên được thay thế bằng hydrocortison bởi vì chúng gây teo da. Testosteron propionat (1- 2% trong parafin mềm) bôi vào âm đạo hai lần một ngày tròng 6 tuần cho kết quả tốt nhất trong trường hợp xơ cứng liken và có thể được sử dụng lâu dài với lượng thuốc và số lần giảm dần.

Các biện pháp ngoại khoa

Ung thư tế bào biểu mô lát tại chỗ cua âm hộ và ung thư tế bào nhỏ, xâm nhập tế bào đáy của âm hộ nên được cắt bỏ rộng ra ngoài. Nếu ung thư biểu mô lát tại chỗ phạm vi rộng hoặc nhiều tâm, liệu pháp laser hay cắt bỏ bề mặt da âm hộ có thể là cần thiết. Bằng cách này, âm vật và những phần không liên quan của âm họ có thể được để lại. Ghép da có thể cần thiết, nhưng cắt bỏ toàn bộ âm hộ là phải tránh.

Ung thư xâm nhiễm có giới hạn đối với âm hộ mà không có chứng cớ lan rộng đến những cơ quan lân cận hoặc đến những hạch bạch huyết vùng sẽ cần thiết cắt bỏ âm hộ triệt để và lấy bỏ hạch bẹn nếu như bệnh nhân có thể chịu đựng được phẫu thuật. Những bệnh nhân yếu có thể chỉ chiếu tia tạm thời.

Tiên lượng

Những bệnh nhân ung thư âm hộ đường kính 3 cm hoặc nhỏ hơn và không có di căn hạch bẹn có thể được phẫu thuật với tia xạ hỗ trợ có khoảng 90% cơ hội ngăn chặn ung thư được 5 năm. Nếu tổn thương lớn hơn 3 cm và có di căn thì khả năng sống sót 5 năm là dưới 25%.


Bài xem nhiều nhất

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích. Nếu đã thành áp xe, hút hoặc rạch và dẫn lưu là hình thức điều trị đơn giản nhất, nhưng có thể bị đi bị lại.

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung. Tất cả những thương tổn nhìn thấy bất thường của cổ tử cung cần được sinh thiết.

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán đang bàn cãi như chửa ngoài tử cung hay viêm ruột thừa.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, khối u tân tạo buồng trứng và u xơ tử cung. Nhìn chung, chỉ có viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng, tiếp theo là kiểm tra tế bào học của âm đạo (cả 4 góc của nửa trên âm đạo) và cổ tử cung hàng năm.

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Xem theo danh mục