U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ngày: 7 - 12 - 2016

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Những yếu tố cần thiết trong chẩn đoán

Tử cung to lên không đều đặn (có thể không có triệu chứng).

Chảy máu âm đạo nhiều hoặc không có chu kỳ, thống kinh.

Đau vùng tiểu khung cấp và tái phát nếu khối u có cuống bị xoắn hoặc bị nhồi máu.

Những triệu chứng do chèn ép vào những cơ quan lân cận (những khối u to).

Nhận định chung

U xơ là một khối u lành tính hay gặp nhất của đường sinh dục nữ. Đó là một khối u tử cung riêng biệt, tròn, chắc, thường là nhiều nhân cấu tạo bởi tổ chức cơ trơn và tổ chức liên kết. Sự phân loại phù hợp nhất là dựạ vào vị trí giải phẫu: (1) trong thành tử cung, (2) dưới niêm mạc, (3) dưới thanh mạc, (4) trong dây chằng rộng, (5) khối u ký sinh (có nghĩa là nhận được sự cung cấp máu từ một cơ quan đến gắn vào nó) và (6) cổ tử cung, u xơ dưới niêm mạc có thể trở thành có cuống và sa xuống qua cổ tử cung vào trong âm đạo.

Các triệu trứng và dấu hiệu

Ở những phụ nữ không có thai, các u xơ thường không có triệu chứng. Tuy nhiên chúng có thể gây ra thường xuyên đi tiểu, thống kinh, chảy máu nhiều (thường là kèm thiếu máu), hoặc những biến chứng khác do có một khối ở bụng. Đôi khi, thoái hóa xảy ra gây đau dữ dội. Vô sinh có thể do u xơ làm biến dạng buồng tử cung.

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Phát hiện cận lâm sàng

Hemoglobin có thể giảm do hậu quả của mất máu, nhưng có ít trường hợp tặng hồng cầu, có thể do u xơ sản sinh chất tạo hồng cầu (erythropoietin)

Ghi hình ảnh

Siêu âm sẽ khẳng định sự hiện diện của u xơ tử cung và có thể đươc sử dụng thường xuyên để theo dõi sự phát triển. Khi những u xơ dưới thanh mạc hoặc có cuống đang được theo dõi thì siêu âm là quan trọng để loại trừ những khối u buồng trứng. MRI có thể mô tả các u xơ trong thành hoặc dưới niêm mạc một cách chinh xác. Chụp tử cung hoặc soi buồng tử cung cũng có thể xác định u xơ cổ tử cung hay u xơ dưới niêm mạc.

Chẩn đoán phân biệt

Sự to ra không đồng đều của u xơ tử cung phải được phân biêt với sự to ra tương tự nhưng cân đối trong trường hợp tử cung có thai hoặc lạc nội mạc tử cung, u xơ dưới thanh mạc phải được phân biệt với những khối u buồng trứng. Ung thư cơ trơn là một khối u hiếm gặp xảy ra 0,5% những phụ nữ đã được mổ với chẩn đoán u xơ tử cung có triệu chứng. Điều đó rất hiếm ở tuổi dưới 40 và sau đó tỷ lệ thường tăng lên.

Điều trị

Các hiện pháp cấp cứu

Nếu bệnh nhân bị thiếu máu rõ rệt do những kỳ kinh kéo dài, nhiều, điều trị trước mổ bằng điều trị tạm thời medroxyprogesteron acetat: cứ 28 ngày tiêm bắp thịt 150mg, hoặc danazol 400 - 800mg/ngày, sẽ làm giảm hoặc ngừng chảy máu, và điều trị thiếu máu bằng nội khoa co thể được thực hiện trước mổ. Phẫu thuật cấp cứu là cần thiết trong trường hợp có xoắn cấp tính của u xơ có cuống. Chỉ định cấp cứu tách bỏ nhân xơ trong thời kỳ có thai bị xoắn, sảy thai không phải là một hậu quả không thể tránh được.

Những biện pháp đặc hiệu

(1) Phụ nữ không có thai: Với những phụ nữ không có thai, những u xơ nhỏ không có triệu chứng nên được theo dõi 6 tháng một lần. Tách bỏ nhân xơ chọn lọc có thể làm để bảo tồn tử cung, u xơ tử cung không đỏi hỏi phẵu thuật với mục đích cấp cứu trừ khi chúng gây ra chèn ép đáng kể vào niệu quản, bàng quang hoặc ruột hoặc chảy máu nặng dẫn đến thiếu máu hoặc trừ khi chúng phát triển to lên nhanh chóng. Những u xơ cổ tử cung to hơn 3 - 4 cm đường kính hoặc u xơ có cuống lồi ra qua cổ tử cung thì phải được cắt bỏ. Những u xơ dưới niêm mạc có thể được cát bỏ bằng laser hoặc dụng cụ cắt bỏ qua nội soi buồng tử cung.

Những chất đồng đẳng GnRH như là leuprolid 3,75mg tiêm báp thịt hàng tháng, hoặc nafarelin 0,2 - 0,4mg dạng hít hai lần một ngày đang được sử dụng trước mổ tròng thời gian 2 - 3 tháng để tạo ra thiểu năng tuyến sinh dục có hồi phục làm giảm kích thước u xơ, ngăn chặn sự phát triển thêm của khối u và giảm vận mạch xung quanh. Nếu bệnh nhân không được tiến hành phẫu thuật, sự phát triển lại của u xơ xảy ra trong vòng vài ba tháng sau khi ngừng GnRH.

(2) Những bệnh nhân có thai: Nếu như vào tháng thứ tư của thai nghén mà tử cung không to hơn so với tử cung có thai tháng thứ sáu có thể sẽ có diễn biến không phức tạp - Nếu khối u (đặc biệt khối u cổ tử cung) có kích thước bằng thai tháng thứ 5, tháng thứ 6 vào lúc thai tháng thứ hai thì xẩy thai có thể xảy ra. Nếu có thể, nên trì hoãn việc tách bỏ nhân xơ hay cắt tử cung đến tận 6 tháng sau khi đẻ, tại thời điểm đó sự co hồi tử cung và sự thoái triển của khối u sẽ được hoàn toàn.

Các biện pháp ngoại khoa

Các biện pháp ngoại khoa có thể áp dụng được để điều trị u xơ là tách bỏ nhân xơ và cát tử cung toàn phần hoặc bán phần qua đường bụng hoặc âm đạo. Tách bỏ nhân xơ là điều trị được chọn trong tuổi sinh đẻ.

Tiên lượng

Điều trị ngoại khoa là điều trị tận gốc. Những lần thai nghén về sau là không gây nguy hiểm bởi tách bỏ nhân xơ, mặc dù mổ đẻ có thể cần thiết sau khi phẫu tích rộng vào buồng tử cung.


Bài xem nhiều nhất

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích. Nếu đã thành áp xe, hút hoặc rạch và dẫn lưu là hình thức điều trị đơn giản nhất, nhưng có thể bị đi bị lại.

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung. Tất cả những thương tổn nhìn thấy bất thường của cổ tử cung cần được sinh thiết.

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán đang bàn cãi như chửa ngoài tử cung hay viêm ruột thừa.

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, khối u tân tạo buồng trứng và u xơ tử cung. Nhìn chung, chỉ có viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng, tiếp theo là kiểm tra tế bào học của âm đạo (cả 4 góc của nửa trên âm đạo) và cổ tử cung hàng năm.

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Xem theo danh mục