Ung thư niêm mạc tử cung (ung thư thân hoặc đáy tử cung)

Ngày: 6 - 12 - 2016

Những phiến đồ Papanicolaou của cổ tử cung thỉnh thoảng cũng cho thấy được những tế bào niêm mạc tử cung không điển hình nhưng chúng không luôn là công cụ để chẩn đoán.

Ung thư tuyến của thân tử cung là loại ung thư thứ hai hay gặp ở đường sinh dục nữ. Thường xảy ra ở phụ nữ từ 50 - 70 tuổi. Nhiều bệnh nhân có vấn đề này là những người đã từng dùng estrogen đơn thuần trong quá khứ (bệnh của họ phát triển sau 10 năm hay lâu hơn nữa). Sự tăng nguy cơ của họ có vẻ vẫn còn tồn tại trong 10 năm hay hơn tính từ khi ngừng dùng thuốc. Béo bệu, chưa đẻ lần nào, đái tháo đường và buồng trứng đa nang có thời kỳ không phóng noãn kéo dài và sử dụng kéo dài tamoxifen để điều trị ung thư vú cũng là những yếu tố nguy cơ. Chảy máu bất thường là dấu hiệu tiêu biểu trong 80% các trường hợp. Ung thư niệm mạc tử cung có thể gây tắc chít cổ tử cung kèm theo ứ mủ (ứ mủ trong tử cung) hoặc ứ máu (ứ máu trong tử cung) gây ra đau bụng dưới. Tuy nhiên, đau thường xảy ra trong quá trình muộn của bệnh, khi có di căn hay viêm nhiễm.

Những phiến đồ Papanicolaou của cổ tử cung thỉnh thoảng cũng cho thấy được những tế bào niêm mạc tử cung không điển hình nhưng chúng không luôn là công cụ để chẩn đoán. Chỉ có lấy máu ở trong ống cổ tử cung và niêm mạc tử cung là cách làm đáng tin cậy cho chẩn đoán. Lấy đầy đủ máu xét nghiệm ở mỗi nơi nói trên thường được làm ở cơ sở y tế, gây tê tại chỗ (phong bế cạnh cổ tử cung). Tiến hành đồng thời với soi buồng tử cung có thể là phương pháp hỗ trợ có giá trị để xác định nơi có các polip hoặc những tổn thương khác trong buồng tử cung, coi như một chỉ báo của sự phì đại và sự thay đổi tân tạo.

Đánh giá bệnh học là quan trọng để phân biệt quá sản. Trong trường hợp này, người ta thườhng điều trị bằng progestin uống có chu kỳ.

Phòng ngừa

Một mẫu niêm mạc tử cung lấy ngay ở những người có chảy máu kinh nguyệt bất thường hoặc chảy máu tử cung sau mãn kinh có thể cho thấy ung thư niêm mạc tử cung mới chớm phát cũng như ủng thư đã có biểu hiện lâm sàng. Đối với những phụ nữ sau mằn kinh dùng estrogen hoặc những phụ nữ trẻ không phóng noãn kéo dài có thể cho progestin 13 ngày cuối của vòng estrogen nhằm làm bong niêm mạc tử cung có chu kỳ. Điều này liên quan với việc làm giảm tỉ lệ mắc ung thư tuyến tử cung.

Phân chia giai đoạn

Gây mê, lấy mẫu bệnh phẩm niêm mạc tử cung và trong cổ tử cung, chiếu X quang ngực, chụp tiết niệu tiêm cản quang tĩnh mạch, soi bàng quang, sỏi đại tràng sigma và cộng hưởng từ hạt nhân sẽ giúp xác định được sự lan rộng của bệnh và cách điều trị thích hợp. Cách định giai đoạn dựa trên đánh giá bệnh học và khí phẫu thuật.

Điều trị

Điều trị bao gồm cắt tử cung hoàn toàn và cắt phần phụ hai bên. Lấy bệnh phẩm trong ổ bụng để xét nghiệm tế bào học được coi là một việc làm thường quy. Chiếu tia ban đầu hay đặt phóng xạ trong buồng tử cung được chỉ định cho những ung thư ít biệt hóa hoặc nếu tử cung to lên một cách rõ ràng mà không có u xơ tử cung. Nếu ung thư xâm nhiễm sâu vào lớp cổ tử cung hoặc nếu hạch bạch huyết trước động mạch chủ tỏ ra cùng với khối u thì chỉ định chạy tia hậu phẫu. Để làm giảm bớt sự phát triển hoặc di căn ung thư tuyến tử cung có thể hoàn thiện điều trị bằng các liều cao progestin, như dùng medroxyprogesteron 400 mg tiêm bắp hàng tuần hoặc megestrol acetat uống 80 - 160 mg mỗi ngày.

Tiên lượng

Với chẩn đoán và điều trị sớm, tỉ lệ sống thêm 5 năm là 80 - 85%.


Bài xem nhiều nhất

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích. Nếu đã thành áp xe, hút hoặc rạch và dẫn lưu là hình thức điều trị đơn giản nhất, nhưng có thể bị đi bị lại.

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung. Tất cả những thương tổn nhìn thấy bất thường của cổ tử cung cần được sinh thiết.

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán đang bàn cãi như chửa ngoài tử cung hay viêm ruột thừa.

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, khối u tân tạo buồng trứng và u xơ tử cung. Nhìn chung, chỉ có viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng, tiếp theo là kiểm tra tế bào học của âm đạo (cả 4 góc của nửa trên âm đạo) và cổ tử cung hàng năm.

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Xem theo danh mục