Viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 1 - 2016

Viêm bàng quang có thể thứ phát sau viêm tuyến tiền liệt, nhưng các mẫu nước tiểu theo phân đoạn sẽ định khu nhiễm trùng. Bệnh hậu môn có thể có chung một số triệu chứng như viêm tuyến tiền liệt, và khám thực thể sẽ phân biệt được chúng.

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Các triệu trứng kích thích bài tiết.

Khó chịu ở đáy chậu và trên xương mu, thường mơ hồ và khó định vị.

Có các chất tiết của tuyến tiền liệt khi bóp và kết quả cấy cũng dương tính.

Nhận định chung

Mặc dù viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn có thể tiến triển từ viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn, song nhiều bệnh nhân không có tiền sử nhiễm trùng cấp tính. Trực khuẩn Gram (-) là các tác tác nhân gây bệnh hay gặp nhất, nhưng chỉ có một vi khuẩn Gram (+) (enterococcus) là kết hợp với nhiễm trùng mạn tính. Con đường nhiễm trùng giống như đã giới thiệu ở phần nhiễm trùng cấp tính.

Triệụ chứng và dấu hiệu

Các biều hiện lâm sàng có tính biến thiên. Một số bệnh nhân không có triệu chứng, nhưng đại đa số là có các mức độ khác nhau của các triệu chứng kích thích bài tiết. Đau lưng phía dưới và đau ở đáy chậu không hay gặp. Nhiều bệnh nhân có tiền sử mắc các nhiễm trùng đường niệu. Khám thực thể thường không rõ ràng, bởi tuyến tiền liệt có thể thấy bình thường, lùng bùng, hoặc cứng chắc.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Xét nghiệm nước tiểu là bình thường trừ khi có viêm bàng quang thứ phát. Các chất tiết do ép tuyến tiền liệt có tăng số lượng bạch cầu > 10/hpf (trường tăng sáng), đặc biệt là các đại thực bàọ chứa đầy lipid. Tuy nhiên, cấy các chất tiết hoặc cấy các mẫu nước tiểu sau ép tuyến tiền liệt là cần thiết cho chẩn đoán.

Chẩn đoán hình ảnh

Các kỹ thuật ghi hình không cần thiết, song chụp X quang chậu hông hoặc siêu âm qua trực tràng có thể cho thấy hình ảnh sỏi tuyến tiền liệt.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm niệu đạo mạn tính có thể có bệnh cảnh giống viêm tuyến tiền liệt mạn tính, song việc cấy nước tiểu ở các phân đoạn (đầu bãi, cuối bãi và toàn bộ) có thể định khu nguồn nhiễm trùng. Viêm bàng quang có thể thứ phát sau viêm tuyến tiền liệt, nhưng các mẫu nước tiểu theo phân đoạn sẽ định khu nhiễm trùng. Bệnh hậu môn có thể có chung một số triệu chứng như viêm tuyến tiền liệt, và khám thực thể sẽ phân biệt được chúng.

Điều trị

Một số thuốc kháng khuẩn đạt được nồng độ điều trị bên trong tuyến tiền liệt khi không có viêm cấp. Trimethoprim tác động lan toả bên trong tuyến tiền liệt, và trimethoprim - sulfamethòxazọl cho tỷ lệ chữa khỏi bệnh tốt nhất. Các thuốc có hiệu quả khác bao gồm carbenicillin, erythromycin, cephalexin và các quinolon. Thời gian điều trị tối ưu vẫn còn gây tranh cãi, thường trong khoảng thời gian từ 6 đến 12 tuần. Các thuốc chống viêm (indomethacin, ibuprofen) và ngâm mông vào nước nóng có thể có tác dụng làm giảm các triệu chứng của bệnh.

Tiên lượng

Viêm tuyến tiền liệt mạn tính do vi khuẩn khó chữa khỏi, nhưng các triệu chứng của nó và khuynh hướng gây các nhiễm trùng đường niệu tái phát có thể kiểm soát được bằng liệu pháp kháng sinh.


Bài xem nhiều nhất

Khối u ở thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Khối u tinh hoàn (chẩn đoán và điều trị)

Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u. Khoảng 5% của những khối u tinh hoàn phát triển ở những bệnh nhân có tiền sử tinh hoàn ẩn với u tinh là phổ biến nhất.

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt có thể có các triệu chứng bài tiết kích thích và tắc nghẽn. Các triệu chứng tắc nghẽn bao gồm giảm áp lực và khẩu kính dòng nước tiểu, dòng nước tiểu ngắt quãng, và lưỡng lự đi tiểu.

Ung thư bàng quang (chẩn đoán và điều trị)

Phân tích nước tiểu sẽ phát hiện huyết niệu ở đa số các trường hợp. Đôi khi, có thể kèm theo mủ niệu. Vô niệu có thể có ở số lượng nhỏ các trường hợp kèm theo tắc nghẽn niệu quản.

Ung thư niệu quản và bể thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u bể thận và niệu quản phải được phân biệt với sỏi, cục máu, hoại tử nhú hoặc viêm, hoặc các tổn thương nhiễm trùng. Đôi khi, có thể vào được những tổn thương như vậy để hướng dẫn sinh thiết, đốt bằng tia điện, hoặc cắt qua soi niệu quản.

Xét nghiệm nước tiểu đánh giá bệnh niệu học

Xét nghiệm nước tiểu bằng qụe đo mực nước không có vai trò gì trong việc sàng lọc các bệnh đường tiết niệu ở những người trưởng thành không có triệu chứng ngoại trừ phụ nữ mang thai.

Ung thư tuyến tiền liệt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở nam giới đều không có triệu chứng rõ rệt mà chỉ có các cục khu trú hoặc những vùng rắn cứng trong tuyến tiền liệt khi thăm khám trực tràng bằng tay.

Bệnh sỏi tiết niệu (chẩn đoán và điều trị)

Chế độ ăn và dịch uống có thể là các yếu tố quan trọng trong sự phát triển của sỏi niệu. Người bị bệnh sỏi niệu tái phát được khuyến khích, duy trì một chế độ ăn hạn chế muối và protein.

Viêm mào tinh hoàn cấp (chẩn đoán và điều trị)

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Các nhiễm trùng đường sinh dục tiết niệu

Các nhiễm trùng đầu tiên là các nhiễm trùng lần đầu ở phụ nữ trẻ tuổi có xu hướng không biến chứng. Vi khuẩn niệu không giải quyết được xuất hiện khi đường niệu không được vô trùng trong suốt quá trình điều trị.

Vô sinh nam (chẩn đoán và điều trị)

Nên phân tích tinh dịch sau 72 giờ kiêng không sinh hoạt tình dục. Nên phân tích mẫu tinh dịch trong vòng 1 giờ sau thu thập. Nồng độ tinh trùng bất thường là < 20 triệu/ml.

Rối loạn chức năng cương cứng nam giới và rối loạn chức năng tình dục

Mất cương cứng có thể do các nguyên nhân động mạch, tĩnh mạch, thần kinh hoặc tâm sinh. Các bệnh đang mắc có thể làm ảnh hưởng đến một hoặc nhiều cơ chế.

Viêm bàng quang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm nước tiểu cho thấy có mủ niệu, vi khuẩn niệu và các mức độ đái máu khác nhau. Mức độ mủ niệu và vi khuẩn niệu không nhất thiết tương quan với mức độ nặng của các triệu chứng.

Viêm thận - bể thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có.

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn là bệnh hay gặp nhất trong các hội chứng viêm tuyến tiền liệt, và nguyên nhân của nó vẫn chưa rõ. Theo lập luận thì các nguyên nhân gây bệnh là chlamydia, mycoplasma, ureaplasma, và virus, song không có bằng chứng thực sự nào tồn tại.