Những bệnh sản xuất quá mức globulin miễn dịch (bệnh dòng gamma)

Ngày: 9 - 1 - 2017

Bệnh gamma đơn dòng bao gồm các thể bệnh trong đó có sự tăng sinh mất cân đối của dòng đơn tế bào globulin miễn dịch chuỗi nặng chuỗi nhẹ đồng nhất hai phần tử hoàn toàn dẫy acid amin của vùng biến thiên.

Bệnh gamma đơn dòng bao gồm các thể bệnh trong đó có sự tăng sinh mất cân đối của dòng đơn tế bào globulin miễn dịch chuỗi nặng chuỗi nhẹ đồng nhất hai phần tử hoàn toàn dẫy acid amin của vùng biến thiên (V) là cố định và chỉ một typ (κ hay λ) của chuỗi nhẹ được sản xuất. Bệnh đa dòng gamma hậu quả của sự tăng sinh của nhiều dòng tế bào B dẫn đến tăng lan tràn globulin miễn dịch.

Bệnh đơn dòng gamma biếu hiện không chắc chắn

Chẩn đoán được đặt ra tìm thấy một globulin miễn dịch đồng nhất (đơn dòng) với hoặc chuối κ hoặc chuỗi λ nhưng không phải cả hai, trong miễn dịch điện đi huyết thanh. Tỷ lệ mắc của globulin miễn dịch đồng nhất tăng lên theo tuổi và có thể đến 3% ở những người 70 tuổi hoặc già hơn. Cũng độ 1/3 cá thể bị bệnh đơn dòng gamma có vẻ lành tính sẽ có thể phát triển thành ác tính dòng lympho, bệnh thoái hóa tinh bột hay đa u tủy. Chưa có điều trị đặc hiệu ngoại trừ theo dõi liên tục tình trạng tăng sinh lympho. Nguy cơ thúc đẩy quá trinh phát triển những rối loan ác tính là 33% ở 20 năm. Các thông số gợi ý một tiên lượng tốt của bệnh đơn dòng gammạ bao gồm: (1) Nồng độ globulin miễn dịch đồng nhất thấp hơn 2g/dl; (2) Không tăng đáng kể nồng độ của globulin miễn dịch đồng nhất từ lúc có chẩn đoán; (3) Không giảm nồng độ globulin miễn dịch so với bình thường; (4) Không có chuỗi nhẹ đồng nhất trong nước tiểu; (5) Hematocrit và nồng độ albumin huyết thanh bình thường.

Đa u tủy

Bệnh này được đặc trưng bằng sự sản xuất quá mức và trải rộng khắp của các tương bào ác tính trên khắp tủy xương. Các tế bào u tủy đôi khi biểu thị phân tử của tế bào B ban đầu hay dòng đơn nhân tủy. Hiếm thấy các u tương bào ngoài xương. Thường gặp thiếu máu, tăng calci máu, tăng khả năng nhiễm khuẩn và đau tủy xương. Việc chẩn đoán dựa vào sự có mặt của những điểm dưới đây: (1) Những dấu hiệu quang tuyến của tổn thương tiêu xương hay loãng xương lan toả; (2) Sự hiện diện của globulin miễn dịch đồng nhất trong huyết thanh (protein u tủy) hay là typ đơn của chuỗi nhẹ trong nước tiểu (protein Bence Jones trong nước tiểu ) và (3) Thấy tương bào bạt thường thâm nhiễm trong sinh thiết tủy xương. Có trên 20% tương bào trong tủy xương có thể phân biệt chắc chắn sớm u tụy với bệnh MGUS. Có một mọi liên quan gần gũi giữa tỷ lệ mắc typ globulin miễn dịch trong u tủy và nồng độ globulin miễn dịch liên quan trong huyết thanh bình thường. Đó là IgG > IgA > IgD > Ig. U tủy IgM không tìm thấy trong tất cả kết qủa thực tế. Điều trị u tủy xương còn nhiều khó khăn và rất hiếm, hay đúng hơn là chưạ bao giờ khỏi được.

Macroglobulin máu Waldenstrom

Macroglobulin máu Waldenstrom được đặc trưng bằng sự tăng sinh tế bào lympho bình thường có những nét đặc biệt hình thái của cả tế bào B và tương bào. Những tế bào này bài tiết ra macroglobulin đồng nhất (IGM) có thể phát hiện bằng miễn dịch điện di. Chuỗi nhẹ đơn dòng có trong 10% các trường hợp. Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào đặc tính lý hóa của macroglobulin. Hiện tượng Raynaud và tắc mạch ngoại biên thường là do có protein không hoà tan lạnh. Xuất huyết võng mạc, giảm thị lực và suy giảm thần kinh tạm thời thương đi kèm với huyết thanh có độ quánh cao. Tạng chảy máu hay thiếu máu huyết tán có thể xẩy ra khi macroglobulin phối hợp với các yếu tố đông máu hay gắn trên bề mặt hồng cầu.

Thái hóa dạng tinh bột

Thái hóa dạng tinh bột là một nhóm những rối loạn biểu hiện chức năng cơ quan suy yếu do thâm nhiễm tổ chức các sợi nhỏ protein không hoà tan hoặc protein phức hợp với các polysaccharid. Sự thay đổi trong thành phần các sợi nhỏ có thể có liên quan rộng rãi với các triệu chứng lâm sàng. Dạng tinh bột ở thể tiên phát hay cùng với tăng tương bào trong tủy xương hoặc các tổ chức lympho. Các sợi nhỏ protein trong các thực thể này thường gồm các globulin miễn dịch chuỗi nhẹ hay các đoạn chuỗi nhẹ đặc biệt là vùng V. Thể này của dạng tinh bột được gọi là AL.

Protein không phải globulin miễn dịch (AA) là phần hợp thành chủ yếu của các sợi dạng tinh bột được tạo thành thứ phát sau nhiều tuần (viêm cốt tủy, lao), viêm nhiễm, viêm khớp dạng thấp, bệnh Hodgkin, viêm ruột vùng carcinom tế bào thận, bệnh phong và nghiện ma tuý tiêm chích tĩnh mạch). Thoái hóa dạng tinh bột hệ thống di truyền phối hợp với sốt Địa Trung Hải có tính chất gia đình gồm có protein AA (protein không phải globulin miễn dịch). Protein này là dẫn xuất từ chất phản ứng giai đoạn cấp SAA (Serum amyloid-assoiated - huyết thanh liên quan dạng tinh bột).

Các triệu chứng và dấu hiệu của thâm nhiễm dạng tinh bột có biên quan đến hoạt động suy giảm của cơ quan mắc bệnh (như hội chứng thận hư, suy thận mạn tính, bệnh cơ tim, rối loạn dẫn truyền tim, kém hấp thu ruột, tắc ruột, hội chứng đường hầm cổ tay, lưỡi dầy, bệnh thần kinh ngoại biên, suy cơ quan cuối (end organ) của các tuyến nội tiết, suy hô hấp, tắc thông khí và suy giảm mao mạch với bầm máu). Thoái hóa dạng tinh bột do sự lắng đọng β2-microglobulin ở các khớp va xương thấy ở những bệnh nhân thẩm phân máu kéo dài.

Chẩn đoán thoái hóa dạng tinh bột dựa trên sự nghi vấn, tiền sử gia đình và tồn tại kéo dài nhiễm khuẩn hay ốm đau yếu mệt. Làm sinh thiết (lợi, thận, trực tràng) hay các vật phẩm phẫu thuật để chẩn đoán. Dạng tinh bột gắn thuốc nhuộm đỏ Congo vào tổ chức và phát huỳnh quang màu táo xám với tia cực tím. Sinh thiết kim nhỏ mô mỡ vùng dưới da bụng là một phương pháp đơn giản và đáng tin cậy để chẩn đoán thoái hóa dạng tinh bột hệ thống thứ phát.

Điều trị các "u" dạng tinh bột khu trú bằng cắt bỏ ngoại khoa. Đây không phải là hiệu quả thoái hóa dạng tinh bột hệ thống và thường là tử vong trong vòng 1- 3 năm. Bệnh nhân có tiến triển suy thận có thể thẩm phân có thời gian sống thêm trung bình dưới 1 năm và thường tử vong do xâm lấn ngoài thận của thoái hóa dạng tinh bột toàn thể. Điều trị bệnh có khuynh hướng tạo được lui bệnh tạm thời hay làm chậm tiến triển của bệnh nhưng không chắc quá trình chuyển hóa đã thành lập bị thay đổi. Bệnh nhân bị thoái hóa dạng tinh bột do loạn tương bào có thể tạm thời đáp ứng với điều trị melphalan và prednison. Colchicin thường dùng trong sốt Địa Trung Hải có tính chất gia đình. Điều trị sớm và đầy đủ các nhiễm khuẩn sinh mủ có thể phòng ngừa được thoái hóa dạng tinh bột thứ phát.

Bệnh của chuỗi nặng (α, γ, µ)

Đây là những rối loạn hiếm gặp trong đó protein huyết thanh và nước tiểu bất thường là một phân của chuỗi nặng α, γ, µ đồng nhất. Biểu hiện lâm sàng của u lympho thường điển hình hơn đa u tủy và thường không có tổn thương hủy hoại xương. Bệnh của chuỗi gamma biểu hiện như một rối loạn tăng sinh lympho giống như các bệnh tự miễn hay như bệnh cảnh ác tính hệ lympho. Bệnh của chuỗi α thường phối hợp với ỉa chảy nặng và thâm nhiễm lá thành của tiểu trường với nhiều tương bào. Bệnh của chuỗi β thường phối hợp với bệnh bạch cầu mạn tính dòng lympho.


Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.

Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.