Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 19 - 1 - 2017

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Mặc dù đẫ có những tiến bộ trong kỹ thuật định typ tổ chức và so nghiệm người cho-người nhận song việc thải bỏ mảnh ghép đồng loài vẫn còn là một vấn đề trung tâm trong việc điều hành người nhận ghép cơ quan. Sự hiểu biết thấu đáo mối liên hệ phân tử và tế bào cơ sở trong thải bỏ mảnh ghép sẽ cải thiện được việc chọn lựa phương pháp điều trị ức chế miễn dịch đặc hiệu, mà do đó sẽ dẫn đến kéo dài thời gian sống thêm của mảnh ghép và giảm thiểu các tác dụng có hại. Nhiều thuốc mới có tiềm năng giảm miễn dịch và giảm độc tính đang phát triển và thử thách trên lâm sàng.

Corticosteroid

Nhóm thuốc này có tiềm năng chống viêm và hiệu lực trực tiếp trên các tế bào có thẩm quyền miễn dịch. Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương. Các bạch cầu đơn nhân và ái toan giảm. Việc thay đổi tế bào này dẫn đến giám thiểu đáp ứng viêm. Sự phá vỡ mối tương tác giữa tế bào T và các đại thực bào cho thấy là một cơ chế quan trọng và corticosteroid được biết là ức chế hoạt động của tế bào T bởi interleukin-l (IL-l) dẫn xuất từ các đại thực bào. Thêm vào đó, corticosteroid ngăn chận sự biểu hiện của kháng nguyên hoà hợp tổ chức lớp II trên bề mặt đại thực bào bằng cách can thiệp với sự hiện diện của kháng nguyên vào tế bào T.

Các thuốc độc tế bào

Các thuốc độc tế bào thường rất hay dùng là azathioprin và cyclophosphamid. Azathioprin là một dẫn chất của mercaptopurin, một chất đối kháng tổng hợp purin. Azathioprin là một thuốc đặc hiệu pha giết rất nhanh các tế bào sao chép. Thuốc ức chế sự tăng sinh của cả tế bào B và T cũng như các đại thực bào. Cyclophosphamid là một chất alkyl hóa tiêu diệt tế bào bằng liên kết chéo ADN. Tuy loại thuốc đặc hiệu chu kỳ này rất có hiệu quả giết tế bào thông qua chu kỳ phân bào song nó cũng có thể gây chết và tổn thương tế bào liên phân bào. Cyclophosphaniid có thể ức chế tính miễn dịch của cả tế bào T và B cũng như hiện tượng viêm. Azathioprin và Cyclophosphaníid đều là những chất ức chế một cách hiệu quả sản xuất kháng thể trong huyết thanh.

Các chất chống chuyển hóa

Chất chống chuyển hóa thường được dùng là methotrexat, một chất ức chế tổng hợp acit folic. Methotrexat ức chế nhanh các tế bào phân chia ở pha S và ngăn chặn cả miễn dịch qua trung gian tế bào lẫn qua thể dịch cũng như ức chế hiện tượng viêm.

Cyclosporin

Loại polypeptid vòng này dẫn xuất từ một loại nấm, mới được sử dụng gần đây như một thuốc ức chế miễn dịch cho người nhận ghép cơ quan. Cyclosprin tham gia với sự bài tiết interleukin 2 (IL-2) bởi lympho bào T. Vì IL-2 cần thiết cho việc sao chép tế bào T mà cyclosporin là chất ức chế tiềm năng của sự sinh tế bào T và do vậy ức chế được đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào T. Hiệu lực nhỏ bé cũng đã thấy trên đáp, ứng tế bào B hay trên viêm nhiễm. Tác dụng độc của thuốc trước hết là đối với chức năng gan và thận.

Tacrolimus (FK506)

Một loại thuốc mới được phát triển dể dùng trong ghép, FK 506 là một macrolid có đặc tính chống tế bào T và kiểu tác động cũng như của cyclosporin. Giống cyclosporin, tacrolimus 506 ức chế IL-2, ức chế sự sản xuất inteferon γ và sự hoạt hóa tế bào T. Thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trong ghép tim, gan, thận.


Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.

Các ứng dụng của các test tế bào B và T (chẩn đoán và điều trị)

Tăng lympho bào thứ phát sau nhiễm virus, vi khuẩn thường phối hợp với một tỷ lệ phần trăm bình thường của tế bào B và việc phân phối thường lệ của các lớp globulin miễn dịch trên bề mặt tế bào.