Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 13 - 1 - 2017

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Khả năng tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu dưới sự kiểm soát trực tiếp của các gen phối hợp chặt chẽ trên cùng nhiễm sắc thể với các gen cấu trúc của những kháng nguyên ghép chủ yếu. Kháng nguyên ghép chủ yếu là những glycoprotein bề mặt tế bào (tìm thấy trên hầu hết các tế bào của cơ thể); mà sẽ gây ra phản ứng thải bỏ ghép mạnh nhất khi các mô được trao đổi giữa hai thành viên của một loài đặc biệt. Những phần tử này hoạt động để trình diện kháng nguyên với các tế bào có thẩm quyền miễn dịch khác nhau, ở loài người, vùng di truyền là phức hợp kháng nguyên bạch cầu người (human leucocyte antigen - HLA) vì các kháng nguyên này được phát hiện trước tiên ở lympho bào máu ngoại biên. Phức hợp bao gồm các kháng nguyên HLA - A, - B, - C, - DR và các kháng nguyên khác nữa, mỗi kháng nguyên lại có nhiều alen.

Phần lớn (98%) thời gian, phức hợp HLA không bị thay đổi di truyền như hai halotyp (mỗi halotyp từ mỗi cha hay mẹ) và trong bất kỳ gia đình đặc biệt nào con số những phối hợp khác nhau thấy được sẽ rất nhỏ (như anh em ruột chỉ có 1:4 có may là HLA giống nhau). Trái lại con số của những phối hợp khảng nguyên giữa những cá thể không có liên hệ là rất lớn dẫn đến có khả nâng ít hơn 1 trên vài nghìn phụ thuộc vào phenotyp liên quan, phụ thuộc vào những cá thể hoà hợp HLA tìm thấy trong quần thể người cho bất kỳ. Điều này đặc biệt quan trọng khi người cho hoà hợp rất cần cho những bệnh nhân bị mẫn càm đồng loại mà phải truyền tiểu cầu hay ghép cơ quan. Các thành viên trong gia đình có khả năng cao nhất là những người cho hoà hợp, trong khi tính hoà hợp HLA giữa hai cá thể không có liên hệ là rất thấp. Định typ HLA - A và - B hay phản ứng chéo (cross - matching) được dùng để chọn lọc cho dùng trong truyền tiểu cầu cho những người nhận bị mẫn cảm đồng loài, giảm tiểu cầu. Định typ cho những kháng nguyên lớp I này cũng như cho kháng nguyên HLA - D là quần trọng để xác định tính hoà hợp trong ghép cơ quan. Định typ cho các dấu ấn HLA cũng giá trị trong các kết hợp nghiên cứu giữa hệ thống HLA và kiểm tra di truyền của tính nhậy cảm bệnh.

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response). Mặc dù hiện nay cơ chế chính xác của tác dụng của các gen Ir chưa được biết nhưng rõ ràng là các gen này làm tổn thương khả năng nhận biết các kháng nguyên và khởi động sự phát triển các tế bào miễn dịch T và B đối với các kháng nguyên này. Các gen có hiệu quả mạnh như vậy trên tính đáp ứng miễn dịch đặc hiệu có thể được cho rằng có hiệu lực chính tùy tính đề kháng hay nhạy cảm với một số lớn nhiễm khuẩn, ung thư hay các bệnh tự miễn.


Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.

Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.