Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 8 - 11 - 2016

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.


Tắc một phần hoặc hoàn toàn thành mỏng của tĩnh mạch chủ trên là tình trạng tương đối hiếm gặp, thường là thứ phát sau tiến triển viêm nhiễm hoặc khối u từ trung thất trên. Nguyên nhân thường gặp nhất là: (1) khối u như là u lympho, khối u trung thất ác tính nguyên phát, hoặc ung thư (carcinoma) phổi xâm lấn (trên 80%); (2) viêm trung thất xơ hóa mạn tính, nguồn gốc không rõ, hoặc thứ phát sau lao, bệnh nấm histoplasma, nhiễm trùng mủ, hoặc thuốc, đặc biệt là methysergid; (3) viêm tĩnh mạch huyết khối, thường tiến triển lan rộng từ tĩnh mạch nách hoặc dưới đòn đến tĩnh mạch vô danh và tĩnh mạch chủ và nó thường do đặt ống thông để đo áp lực tĩnh mạch trung tâm hoặc truyền dinh dưỡng; (4) phình của quai động mạch chủ; và (5) viêm màng ngoài tim co thắt.

Triệu chứng và dấu hiệu

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất. Đó là tiến triển tắc dẫn lưu tĩnh mạch ở đầu, cổ, và chi trên. Tĩnh mạch dưới da của phần ngực trên và cổ phía dưới trở nên giãn, và xuất hiện đỏ ở mặt và cổ. Phù cứng ở mặt, cổ và tay xuất hiện muộn hơn, và tím ở những vùng này rồi cũng xuất hiện. Phù ở não và thanh quản là tiến triển cuối cùng của bệnh và gây suy giảm chức năng của não cũng như thiểu năng hô hấp. Khi cúi gập người hoặc nằm xuống làm gia tăng các triệu chứng; ngồi yên lặng nói chung là thích hợp nhất. Biểu hiện bệnh sẽ nặng hơn nếu tiến triển của tắc nhanh và nếu chỗ nối giữa tĩnh mạch đơn hoặc tĩnh mạch chủ trên với tim bị tắc.

Cận lâm sàng

Áp lực tĩnh mạch tăng (thường > 20cm nước) ở tay, còn ở chân là bình thường và ung thư phổi là nguyên nhân thường gặp, nên thường phải soi phế quản; sinh thiết qua ống soi, tuy nhiên, nó lại là chống chỉ định tương đối do tăng áp lực tĩnh mạch và nguy cơ chảy máu.

Ghi hình ảnh

Chụp phim ở ngực và chụp cắt lớp vi tính sẽ xác định được vị trí và tiến triển của tắc, và chụp tĩnh mạch ghi lại được độ rộng và mức độ của tắc tĩnh mạch tuần hoàn bàng hệ. Siêu âm Doppler có thể thấy tuần hoàn bàng hệ, và cộng hưởng từ hạt nhân có thể xác định ranh giới vị trí của huyết khối cũng như thấy nguyên nhân. Chụp tĩnh mạch khí quản hoặc cắt lớp phóng xạ sau khi tiêm tĩnh mạch technetium (Tc 90) thấy được chỗ tắc của dòng cản âm và tim phải và tĩnh mạch bằng hệ lớn. Kỹ thuật này cũng cho phép đánh giá dòng máu chảy quanh chỗ tắc cũng như có giá trị hàng loạt trong đánh giá đáp ứng điều trị.

Điều trị

Dù có kinh nghiệm điều trị khối u, nhưng bác sĩ nên đánh giá để loại trừ những nguyên nhân lành tính, đặc biệt là bệnh nấm histoplasma.

Điều trị cấp cứu đối với khối u bao gồm (1) sử dụng thận trọng lợi tiểu đường tĩnh mạch và (2) tia xạ trung thất, bắt đầu trong 24 giờ với kế hoạch điều trị để đưa ra liều hàng ngày cao trừ khi diễn biến của điều trị toàn bộ trong thời gian ngắn làm giảm nhanh chóng khôi u. Điều trị phối hợp rộng rãi sẽ giảm tiến triển xuống 90% bệnh nhân. Ở bệnh nhân ở giai đoạn bán cấp, chỉ riêng điều trị tia xạ thường là đủ. Điều trị hóa chất phối họp nếu chẩn đoán là carcinoma tế bào nhỏ hoặc u bạch huyết.

Những phẫu thuật cầu nối qua chỗ tắt có biến chứng chảy máu vì áp lực tĩnh mạch cao. Trong trường hợp thứ phát xơ hóa trung thất hoặc viêm màng ngoài tim co thắt, các tổ chức xơ bao quanh các mạch máu lớn có thể tái lập dòng chảy.

Tiên lượng

Tiên lượng phụ thuộc vào trạng thái và mức độ của tắc và tốc độ xuất hiện tắc. Tiến triển chậm thứ phát sau xơ hóa có thể thích nghi trong nhiều năm.

Tắc mức độ cao và xuất hiện nhanh thứ phát sau ung thư thường gây chết trong vài ngày hoặc vài giờ bởi vì tăng áp lực nội sọ và chảy máu não nhưng điều trị khối u bằng tia xạ và hóa chất có thể có kết quả giảm rõ.


Bài xem nhiều nhất

Hạ huyết áp và sốc (chẩn đoán và điều trị)

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Tắc động mạch cấp (huyết khối động mạch cấp)

Tắc động mạch không hoàn toàn, mạn tính thuờng là do có thiết lập được tuần hoàn bàng hệ, và lưu lượng máu sẽ tăng qua tuần hoàn bàng hệ một khi có tắc tuần hoàn.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu (chẩn đoán và điều trị)

Tiền sử bị suy tim ứ trệ, mới phẫu thuật, khối u, dùng thuốc tránh thai đường uống, hoặc giãn tĩnh mạch; không hoạt động kéo dài cũng có thể là tiền tố bị bệnh.

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Viêm mạch bạch huyết có thể nhầm với viêm tĩnh mạch huyết khối nông, nhưng phản ứng ban đỏ đi kèm với huyết khối thường nằm trên nền cứng của phản ứng viêm ở tại hoặc xung quanh tĩnh mạch có huyết khối.

Giãn tĩnh mạch (chẩn đoán và điều trị)

Giãn, nổi chằng chịt, kéo dài tĩnh mạch dưới da ở đùi và chân nói chung nhìn thấy rõ khi đứng, tuy nhiên ở bệnh nhân béo phì có thể cần thiết phải sờ để phát hiện biểu hiện và vị trí.

Tím và đỏ đau đầu chi (rối loạn vận mạch)

Đỏ đau đầu chi là một rối loạn giãn mạch kịch phát cả hai bên, nguyên nhân chưa được biết. Đỏ đau đầu chi tự phát xuất hiện trên người khoẻ mạnh bình thường, hiếm khi ở trẻ em, ở nam giới và nữ giới là tương đương.

Phù bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Đoạn viêm cấp hoặc mạn có thể cùng thêm vào, với tình trạng ứ trệ và xơ hóa tăng lên. Kết quả là chân sưng to, da và tổ chức dưới da xơ hóa và dày rõ và giảm các mô mỡ.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.

Tắc động mạch đùi khoeo (chẩn đoán và điều trị)

Khập khiễng cách hồi thấy ở bắp chân và bàn chân. Teo riêng biệt phần thấp cẳng chân và bàn chân, với rụng lông và teo da và tổ chức dưới da, và giảm kích thước cơ.

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud (rối loạn vận mạch)

Bệnh Raynaud hoặc hiện tượng Raynaud có tính chất xuất hiện từng đợt trắng hoặc tím hoặc trắng sau đó là tím ở ngón tay (hiếm khi ngón chân), xuất hiện khi lạnh hoặc khi xúc động.

Mạng xanh tím hình lưới trên da (rối loạn vận mạch)

Mạng xanh tím hình lưới phần lớn biểu hiện ở đùi và cẳng tay và có thể ở phía dưới bụng, phần lớn nó đước báo trước khi trời lạnh. Màu sắc có thể thay đổi thành màu hơi đỏ khi thời tiết ấm nhưng không phải biến mất hoàn toàn.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân (chẩn đoán và điều trị)

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu thường gặp từ đoạn gốc đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu gốc và ở đoạn tận đến chỗ phân nhánh động mạch chủ.

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Suy tim ứ trệ và bệnh nhân mạn tính có thể gây phù cả hai bên cẳng chân, nhưng nói chung nó có những biểu hiện về lâm sàng và xét nghiệm của bệnh thận và tim.

Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.

Tắc mạch não (chẩn đoán và điều trị)

Tai biến mạch máu não thoáng qua có thể là biểu hiện sớm nhất của loét hoặc hẹp động mạch. Nó thường chỉ kéo dài trong vài phút nhưng có thể tái diễn trong 24 giờ.

Bệnh nghẽn động mạch do Cholesterol (chẩn đoán và điều trị)

Ở vài bệnh nhân xơ vữa động mạch nặng gồm cả động mạch chủ và các nhánh của nó, dễ dàng nhận thấy một hội chứng do các vi nghẽn mạch từ các mảng xơ vữa.

Viêm động mạch tự phát Takayasu (bệnh vô mạch, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thần kinh của đái tháo đường với giảm hoặc mất nhận cảm của ngón chân và bàn chân có thể có, đưa đến tổn thương hoặc đê doạ loét mà có thể không để ý bởi vì không có đau.

Phình động mạch chủ bụng (chẩn đoán và điều trị)

Phình ở đoạn động mạch chủ ở trên ít gặp hơn. Đường kính của động mạch chủ dưới chỗ phân nhánh động mạch thận bình thường là 2 cm, khi đường kính vượt quấ 4 cm là nghi ngờ phình mạch.

Phình tách động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Máu lách vào thành động mạch chủ, gây tách động mạch chủ. Chỗ tách nói chung bắt đầu từ đoạn gốc động mạch chủ ngay trên van động mạch chủ hoặc đầu còn lại ở chỗ phân nhánh động mạch dưới đòn trái.

Thiểu năng động mạch nội tạng (thiếu máu cục bộ ruột)

Đột ngột xuất hiện đau thắt bụng liên tục hoặc như bó chặt ở thượng vị và quanh rốn phối hợp với thấy rất ít hoặc không có gì qua khám bụng và thường bạch cầu tăng cao gọi là một trong sự cố của hệ mạc treo tràng trên.

Bệnh xơ vữa động mạch có tắc (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và các nhánh của nó là nguyên nhân thường gặp gây ra tàn tật. Nó cũng là một xác nhận về tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tim mạch và những cuộc mổ mà họ trải qua.

Xem theo danh mục