Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 8 - 11 - 2016

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.


Điểm chính trong chẩn đoán

Xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau ở dọc tĩnh mạch nông.

Thường có tiền sử tiêm tĩnh mạch gần đây hoặc chấn thương. Không có dấu hiệu sưng ở chân.

Nhận định chung

Viêm tĩnh mạch huyết khối nông có thể xuất hiện tự phát, như ở phụ nữ có thai hoặc trong thời kỳ chu sản hoặc ở người có giãn tĩnh mạch hoặc viêm mạch tạo huyết khối tắc nghẽn, nó có thể phối hợp với chấn thương, như trong trường hợp đánh mạnh vào chân hoặc sau khi điều trị tĩnh mạch bằng những dung dịch kích thích. Nó có thể là biểu hiện của một ung thư ở bụng như là carcinoma ở tuyến tụy và có thể là một biểu hiện sớm. Thường bị nhất là tĩnh mạch hiển dài. Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông có thể phối hợp với huyết khối tĩnh mạch sâu ở khoảng 20%. Các trường hợp nghẽn mạch phổi khá hiếm

Thông tĩnh mạch bằng ống thông chất dẻo để truyền tĩnh mạch nông ở tay một thời gian ngắn bây giờ là cách dùng thường xuyên, ống thông được kiểm tra hàng ngày tránh những dấu hiệu của nhiễm trùng tại chỗ. Nó cũng nên bỏ đi nếu có phản ứng tại chỗ ở tĩnh mạch. Huyết khối trầm trọng hoặc biến chứng nhiễm khuẩn huyết có thể xuất hiện nếu những điều trên không được tuân theo. Kim bằng thép truyền tĩnh mạch có cánh cố định (kim bướm) ít gây viêm tĩnh mạch và nhiễm khuẩn hơn là ống thông chất dẻo, nhưng chỉ giữ lưu một thời gian ngắn hơn.

Lâm sàng

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó. Phản ứng viêm nói chung kéo dài dưới 1 - 2 tuần; nhưng mầm bệnh có thể còn ở một thời kỳ dài hơn. Phù ở chân và nhậy cảm đau ở bắp chân sâu không có trừ khi có viêm tĩnh mạch huyết khối đi kèm. Sốt cao, rét run gợi ý bị viêm tĩnh mạch nhiễm trùng huyết và thường có khi viêm tĩnh mạch là thứ phát sau khi đặt ống thông tĩnh mạch mà không chú ý.

Chẩn đoán phân biệt

Đưừng viền rõ ràng hơn của các tổn thương và phân bố dọc theo tĩnh mạch nông giúp cho phân biệt viêm tĩnh mạch nông với viêm mô tế bào, ban đỏ dạng nút, ban đỏ cứng, viêm mô mỡ dưới da, và viêm mô xơ. Viêm mạch bạch huyết và viêm tĩnh mạch huyết khôi sâu có thể cũng phải xem xét.

Điều trị

Nếu tiến triển của bệnh chỉ ở tại chỗ và không gần điểm nối đùi - hiển thì làm nóng tại chỗ và nghỉ tại giường với chân nâng cao thường có hiệu quả làm giảm huyết khối. Thuốc chống viêm không steroid làm giảm các triệu chứng.

Nếu tiến triển bệnh lan rất rộng hoặc tiến triển có xu hướng tới điểm nối đùi -  hiển, hoặc nếu có ở gốc của điểm nối đùi - hiển lúc đầu tiên, thì có chỉ định thắt và tách tĩnh mạch hiển ở điểm nối đùi - hiển. Tiến triển của viêm thường giảm nhiều sau khi thực hiện biện pháp này, dù vậy cắt bỏ đoạn tĩnh mạch có thể có kết quả hồi phục nhanh hơn.

Thuốc chống đông thường không phải chỉ định trừ khi bệnh tiến triển nhanh. Nó được chỉ định khi lan rộng tới cả hệ tĩnh mặch sâu. Viêm tĩnh mạch huyết khối nhiễm trùng huyết đòi hỏi phải cắt các tĩnh mạch và các chỗ nối với những tĩnh mạch không viêm để điều trị nhiễm khuẩn huyết. Tụ cầu là nguyên nhân thường gặp nhất, và nên dùng kháng sinh chống tụ cầu dù chưa có kết quả cây máu. Nếu cấy máu dương tính, điều trị nên tiếp tục trong 7 – 10 ngày, hoặc cho 6 tuần nếu biến chứng viêm nội tâm mạc chưa được loại trừ.

Tiên lượng

Diễn biến nói chung nhẹ và đơn giản, và tiên lượng phụ thuộc vào cơ sở tiến triển của sinh lý bệnh. Viêm tĩnh mạch ở tĩnh mạch hiển có thể lan đến tĩnh mạch sâu, mà nó có thể gây ra nghẽn mạch phổi.


Bài xem nhiều nhất

Hạ huyết áp và sốc (chẩn đoán và điều trị)

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Tắc động mạch cấp (huyết khối động mạch cấp)

Tắc động mạch không hoàn toàn, mạn tính thuờng là do có thiết lập được tuần hoàn bàng hệ, và lưu lượng máu sẽ tăng qua tuần hoàn bàng hệ một khi có tắc tuần hoàn.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu (chẩn đoán và điều trị)

Tiền sử bị suy tim ứ trệ, mới phẫu thuật, khối u, dùng thuốc tránh thai đường uống, hoặc giãn tĩnh mạch; không hoạt động kéo dài cũng có thể là tiền tố bị bệnh.

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Viêm mạch bạch huyết có thể nhầm với viêm tĩnh mạch huyết khối nông, nhưng phản ứng ban đỏ đi kèm với huyết khối thường nằm trên nền cứng của phản ứng viêm ở tại hoặc xung quanh tĩnh mạch có huyết khối.

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Tím và đỏ đau đầu chi (rối loạn vận mạch)

Đỏ đau đầu chi là một rối loạn giãn mạch kịch phát cả hai bên, nguyên nhân chưa được biết. Đỏ đau đầu chi tự phát xuất hiện trên người khoẻ mạnh bình thường, hiếm khi ở trẻ em, ở nam giới và nữ giới là tương đương.

Giãn tĩnh mạch (chẩn đoán và điều trị)

Giãn, nổi chằng chịt, kéo dài tĩnh mạch dưới da ở đùi và chân nói chung nhìn thấy rõ khi đứng, tuy nhiên ở bệnh nhân béo phì có thể cần thiết phải sờ để phát hiện biểu hiện và vị trí.

Phù bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Đoạn viêm cấp hoặc mạn có thể cùng thêm vào, với tình trạng ứ trệ và xơ hóa tăng lên. Kết quả là chân sưng to, da và tổ chức dưới da xơ hóa và dày rõ và giảm các mô mỡ.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud (rối loạn vận mạch)

Bệnh Raynaud hoặc hiện tượng Raynaud có tính chất xuất hiện từng đợt trắng hoặc tím hoặc trắng sau đó là tím ở ngón tay (hiếm khi ngón chân), xuất hiện khi lạnh hoặc khi xúc động.

Tắc động mạch đùi khoeo (chẩn đoán và điều trị)

Khập khiễng cách hồi thấy ở bắp chân và bàn chân. Teo riêng biệt phần thấp cẳng chân và bàn chân, với rụng lông và teo da và tổ chức dưới da, và giảm kích thước cơ.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.

Mạng xanh tím hình lưới trên da (rối loạn vận mạch)

Mạng xanh tím hình lưới phần lớn biểu hiện ở đùi và cẳng tay và có thể ở phía dưới bụng, phần lớn nó đước báo trước khi trời lạnh. Màu sắc có thể thay đổi thành màu hơi đỏ khi thời tiết ấm nhưng không phải biến mất hoàn toàn.

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân (chẩn đoán và điều trị)

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu thường gặp từ đoạn gốc đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu gốc và ở đoạn tận đến chỗ phân nhánh động mạch chủ.

Tắc mạch não (chẩn đoán và điều trị)

Tai biến mạch máu não thoáng qua có thể là biểu hiện sớm nhất của loét hoặc hẹp động mạch. Nó thường chỉ kéo dài trong vài phút nhưng có thể tái diễn trong 24 giờ.

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Suy tim ứ trệ và bệnh nhân mạn tính có thể gây phù cả hai bên cẳng chân, nhưng nói chung nó có những biểu hiện về lâm sàng và xét nghiệm của bệnh thận và tim.

Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.

Bệnh nghẽn động mạch do Cholesterol (chẩn đoán và điều trị)

Ở vài bệnh nhân xơ vữa động mạch nặng gồm cả động mạch chủ và các nhánh của nó, dễ dàng nhận thấy một hội chứng do các vi nghẽn mạch từ các mảng xơ vữa.

Viêm động mạch tự phát Takayasu (bệnh vô mạch, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Phình động mạch chủ bụng (chẩn đoán và điều trị)

Phình ở đoạn động mạch chủ ở trên ít gặp hơn. Đường kính của động mạch chủ dưới chỗ phân nhánh động mạch thận bình thường là 2 cm, khi đường kính vượt quấ 4 cm là nghi ngờ phình mạch.

Phình tách động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Máu lách vào thành động mạch chủ, gây tách động mạch chủ. Chỗ tách nói chung bắt đầu từ đoạn gốc động mạch chủ ngay trên van động mạch chủ hoặc đầu còn lại ở chỗ phân nhánh động mạch dưới đòn trái.

Thiểu năng động mạch nội tạng (thiếu máu cục bộ ruột)

Đột ngột xuất hiện đau thắt bụng liên tục hoặc như bó chặt ở thượng vị và quanh rốn phối hợp với thấy rất ít hoặc không có gì qua khám bụng và thường bạch cầu tăng cao gọi là một trong sự cố của hệ mạc treo tràng trên.

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thần kinh của đái tháo đường với giảm hoặc mất nhận cảm của ngón chân và bàn chân có thể có, đưa đến tổn thương hoặc đê doạ loét mà có thể không để ý bởi vì không có đau.

Bệnh xơ vữa động mạch có tắc (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và các nhánh của nó là nguyên nhân thường gặp gây ra tàn tật. Nó cũng là một xác nhận về tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tim mạch và những cuộc mổ mà họ trải qua.

Xem theo danh mục