Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 7 - 11 - 2016

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.


Điểm chính trong chẩn đoán

Đau nhức hoặc cháy bỏng sau chấn thương ở chi mà nó nặng hơn chấn thương ban đầu.

Biểu hiện tình trạng vận mạch không ổn định thường có và gồm thay đổi nhiệt độ, màu sắc, và kết cấu của da ở chi.

Nhận định chung

Đau - thường là bỏng hoặc đau rát ở chân bị chấn thương là dấu hiệu duy nhất thường thấy và sự chênh lệch giữa mức độ nặng của chấn thương kích động và mức độ đau là đặc điểm nổi bật nhất. Những chấn thương dập làm rách và phá hủy các mô mềm là nguyên nhân thường gặp nhất, nhưng gãy xương kín, rách đơn giản, bỏng (đặc biệt điện), và lựa chọn biện pháp phẫu thuật cũng có liên quan trong hội chứng này. Nó cũng có thể gần cả cẳng tay trái sau một bệnh trong ngực như nhồi máu cơ tim. Nó hiếm gặp ở trẻ em. Biểu hiện đau và phối hợp thay đổi khác có thể ở các bệnh nhẹ hoặc quá nặng, và biểu hiện đầu tiên thường thay đổi nếu tình trạng này tiến triển sang mạn tính.

Lâm sàng

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra. Ở giai đoạn tiến triển đau lan rộng hơn và trở nên tồi tệ vào đêm; chi trở nên lạnh và ẩm và không chịu đựng được với thay đổi nhiệt độ (đặc biệt là lạnh) và da trở nên thô ráp rồi teo. Khớp trở nên cứng, thường ở vị trí ít hoạt động. Chụp X quang các chi bị ảnh hưởng sẽ thấy loãng xương nặng hơn là mức độ loãng xương do ít vận động. Mối quan tâm chủ yếu của người bệnh có thể là tránh kích thích dù là nhẹ nhất đến các chi, đặc biêt là các khớp.

Dự phòng

Trong các cuộc mổ ở chi, thần kinh ngoại vi nên được giữ lại chỉ can thiệp khi chắc chắn là cần thiết và làm với sự nhẹ nhàng tối đa. Nẹp chân bị chấn thương ở khoảng thời gian thích hợp trong giai đoạn sớm, pha đau và tái phát, kết hợp với thuốc giảm đau có thể giúp dự phòng tình trạng này.

Điều trị và tiên lượng

Biện pháp bảo tồn

Điều quan trọng nhất là tình trạng riày phải được nhận biết và điều trị ở giai đoạn sớm, khi biểu hiện phần lớn còn kín đáo và những biến đổi thứ phảt chính còn chưa biểu hiện. Ở những trường hợp sớm, nhẹ; những thay đổi về da và khớp là rất ít, điều trị bao gồm tập luyện cả chủ động và thu động, phối hợp với diazepam, 2mg/2 lần/ngày, hoặc alprazolam 0,125 - 0,25ng cứ 12 giờ 1 lần có thể giảm triệu chứng. Bảo vệ chi khỏi các kích thích chấn thương là quan trọng, và dùng thuốc giảm đau không gây nghiện có thể cần thiết.

Phẫu thuật

Nếu điều trị bảo tồn thất bại hoặc nếu tiến triển nặng hơn hoặc các dấu hiệu càng tiến triển, chẹn giao cảm (hạch hình sao hoặc vùng thắt lưng) có thể hữu ích. Điều trị nội khoa mạnh mẽ có thể sử dụng trong thời kỳ đau sau chẹn giao cảm có hiệu quả. Bệnh nhân có giảm tạm thời dấu hiệu đau sau khi chẹn giao cảm nhưng thất bại trong việc giảm cơn đau lâu dài có thể được điều trị bằng mổ cắt giao cảm. Trong trường hợp đang tiến triển nặng, đặc biệt là phối họp với thay đổi cục bộ và phản ứng xúc cảm thì tiên lượng là không tốt cho cuộc sống bình thường. Những tiếp cận phẫu thuật thần kinh mới dùng ghép dụng cụ kích thích sinh học điện tử làm chẹn xung động cơn đau ở đoạn tủy cổ có một vài thành công.


Bài xem nhiều nhất

Hạ huyết áp và sốc (chẩn đoán và điều trị)

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Tắc động mạch cấp (huyết khối động mạch cấp)

Tắc động mạch không hoàn toàn, mạn tính thuờng là do có thiết lập được tuần hoàn bàng hệ, và lưu lượng máu sẽ tăng qua tuần hoàn bàng hệ một khi có tắc tuần hoàn.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu (chẩn đoán và điều trị)

Tiền sử bị suy tim ứ trệ, mới phẫu thuật, khối u, dùng thuốc tránh thai đường uống, hoặc giãn tĩnh mạch; không hoạt động kéo dài cũng có thể là tiền tố bị bệnh.

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Viêm mạch bạch huyết có thể nhầm với viêm tĩnh mạch huyết khối nông, nhưng phản ứng ban đỏ đi kèm với huyết khối thường nằm trên nền cứng của phản ứng viêm ở tại hoặc xung quanh tĩnh mạch có huyết khối.

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Giãn tĩnh mạch (chẩn đoán và điều trị)

Giãn, nổi chằng chịt, kéo dài tĩnh mạch dưới da ở đùi và chân nói chung nhìn thấy rõ khi đứng, tuy nhiên ở bệnh nhân béo phì có thể cần thiết phải sờ để phát hiện biểu hiện và vị trí.

Tím và đỏ đau đầu chi (rối loạn vận mạch)

Đỏ đau đầu chi là một rối loạn giãn mạch kịch phát cả hai bên, nguyên nhân chưa được biết. Đỏ đau đầu chi tự phát xuất hiện trên người khoẻ mạnh bình thường, hiếm khi ở trẻ em, ở nam giới và nữ giới là tương đương.

Phù bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Đoạn viêm cấp hoặc mạn có thể cùng thêm vào, với tình trạng ứ trệ và xơ hóa tăng lên. Kết quả là chân sưng to, da và tổ chức dưới da xơ hóa và dày rõ và giảm các mô mỡ.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud (rối loạn vận mạch)

Bệnh Raynaud hoặc hiện tượng Raynaud có tính chất xuất hiện từng đợt trắng hoặc tím hoặc trắng sau đó là tím ở ngón tay (hiếm khi ngón chân), xuất hiện khi lạnh hoặc khi xúc động.

Tắc động mạch đùi khoeo (chẩn đoán và điều trị)

Khập khiễng cách hồi thấy ở bắp chân và bàn chân. Teo riêng biệt phần thấp cẳng chân và bàn chân, với rụng lông và teo da và tổ chức dưới da, và giảm kích thước cơ.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.

Mạng xanh tím hình lưới trên da (rối loạn vận mạch)

Mạng xanh tím hình lưới phần lớn biểu hiện ở đùi và cẳng tay và có thể ở phía dưới bụng, phần lớn nó đước báo trước khi trời lạnh. Màu sắc có thể thay đổi thành màu hơi đỏ khi thời tiết ấm nhưng không phải biến mất hoàn toàn.

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân (chẩn đoán và điều trị)

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu thường gặp từ đoạn gốc đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu gốc và ở đoạn tận đến chỗ phân nhánh động mạch chủ.

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Suy tim ứ trệ và bệnh nhân mạn tính có thể gây phù cả hai bên cẳng chân, nhưng nói chung nó có những biểu hiện về lâm sàng và xét nghiệm của bệnh thận và tim.

Tắc mạch não (chẩn đoán và điều trị)

Tai biến mạch máu não thoáng qua có thể là biểu hiện sớm nhất của loét hoặc hẹp động mạch. Nó thường chỉ kéo dài trong vài phút nhưng có thể tái diễn trong 24 giờ.

Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.

Bệnh nghẽn động mạch do Cholesterol (chẩn đoán và điều trị)

Ở vài bệnh nhân xơ vữa động mạch nặng gồm cả động mạch chủ và các nhánh của nó, dễ dàng nhận thấy một hội chứng do các vi nghẽn mạch từ các mảng xơ vữa.

Viêm động mạch tự phát Takayasu (bệnh vô mạch, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Phình động mạch chủ bụng (chẩn đoán và điều trị)

Phình ở đoạn động mạch chủ ở trên ít gặp hơn. Đường kính của động mạch chủ dưới chỗ phân nhánh động mạch thận bình thường là 2 cm, khi đường kính vượt quấ 4 cm là nghi ngờ phình mạch.

Phình tách động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Máu lách vào thành động mạch chủ, gây tách động mạch chủ. Chỗ tách nói chung bắt đầu từ đoạn gốc động mạch chủ ngay trên van động mạch chủ hoặc đầu còn lại ở chỗ phân nhánh động mạch dưới đòn trái.

Thiểu năng động mạch nội tạng (thiếu máu cục bộ ruột)

Đột ngột xuất hiện đau thắt bụng liên tục hoặc như bó chặt ở thượng vị và quanh rốn phối hợp với thấy rất ít hoặc không có gì qua khám bụng và thường bạch cầu tăng cao gọi là một trong sự cố của hệ mạc treo tràng trên.

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thần kinh của đái tháo đường với giảm hoặc mất nhận cảm của ngón chân và bàn chân có thể có, đưa đến tổn thương hoặc đê doạ loét mà có thể không để ý bởi vì không có đau.

Bệnh xơ vữa động mạch có tắc (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và các nhánh của nó là nguyên nhân thường gặp gây ra tàn tật. Nó cũng là một xác nhận về tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tim mạch và những cuộc mổ mà họ trải qua.

Xem theo danh mục