Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 7 - 11 - 2016

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.


Điểm chính trong chẩn đoán

Hầu hết gặp ở nam giới trẻ, hút thuốc lá.

Những chi tắc nghẽn có viêm tắc các động mạch tận, gây thiểu năng tuần hoàn đến ngón chân, ngón tay.

Huyết khối ở tĩnh mạch nông có thể cũng xuất hiện.

Giải quyết là tạm thời và cắt cụt có thể cần thiết, đặc biệt nếu không bỏ hút thuốc.

Nhận định chung

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Thường thấy ở nam giới dưới 40 tuổi mà hút thuốc lá. Ảnh hường của bệnh hầu như chỉ do tắc các động mạch. Triệu chứng khởi điểm là thiếu máu cục bộ, biến chứng muộn hơn là nhiễm khuẩn và hoại tử mô. Nhiễm khuẩn là tạm thời, sau đó là thời kỳ yên lặng kéo dài hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng năm.

Động mạch thường bị nhất là động mạch ở gan bàn chân và tĩnh mạch tận, ở bàn chân và phần dưới cẳng chân. Cũng có thể có cả động mạch ở tay và cổ tay. Những đoạn động mạch khác nhau có thể bị tắc thành một dãy, có một mức độ tái tạo dòng chảy xuất hiện trong những thời kỳ yên lặng. Viêm tĩnh mạch nông huyết khối di chuyển ra ngoài là biểu hiện thường thấy sớm của bệnh.

Lâm sàng

Những dấu hiệu và triệu chứng là biểu hiện của thiểu năng động mạch, và thật khó phân biệt với bệnh xơ vữa động mạch ở ngoại vi.

Tuy nhiên, sau đây là những dấụ hiệu gợi ý bệnh Buerger;

(1) Bệnh nhân nam, dưới 40 tuổi, hút thuốc lá.

(2) Có bệnh sử hoặc thấy những nốt nhỏ, đỏ, đau dây chằng do viêm từng đoạn tĩnh mạch nông huyết khối di chuyển, thường ở nhánh tĩnh mạch hiển hơn là các mạch lớn. Sinh thiết tĩnh mạch thường có được bằng chứng vi thể của bệnh Buerger.

(3) Khập khiễng cách chỗ hồi thường có và thường được chú ý ở gan bàn tay hoặc gan bàn chân. Đau lúc nghỉ thường có và dai dẳng. Nó có xu hướng được báo trước hơn so với xơ vữa động mạch. Tê cóng, giảm nhạy cảm và đau như bỏng, như kim châm có thể có do thiếu máu đến hệ thẩn kinh.

(4) Ngón chân hoặc toàn bộ các đầu tận của bàn chân có thể lạnh và tái nhợt, hoặc có thể đỏ mà có thể liên quan đến không thay đổi tư thế. Da có thể không nhợt khì nâng cao chân và không liên quan đến độ rõ ràng của vết đỏ, thường là báo trước nhiều hơn những gì thấy ở nhóm bệnh xơ vữa. Thay đổi mạch tận thường không có triệu chứng, vì vậy không phải tất cả các ngón chân đều bị và ở mức độ khác nhau. Mạch yếu nhất hoặc mất thường thấy ở mu chân, chày sau, động mạch quay và trụ.

(5) Thay đổi dinh dưỡng có thể có, thường là loét không đau dọc ở móng tay, chân.

(6) Thường thấy bằng chứng của bệnh ở cả hai chân và có thể cùng ở tay và cẳng tay. Có thể có bệnh sử hoặc dấu hiệu thấy hiện tượng Raynaud ở ngón, tay hoặc đoạn cuối bàn chân.

(7) Diễn biến thường là giao động, lúc cấp và thường là nguy kịch, sau đó dịu đi khá rõ ràng. Khi tuần hoàn bàng hệ cũng như nhánh chính bị tắc, sự trầm trọng này có xu hướng dẫn tới hoại tử và cắt cụt. Diễn biến ở bệnh nhân xơ vữa động mạch có xu hướng ít nguy kịch nhưng dai dẳng hơn.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt giữa tắc huyết khối do viêm mạch và tắc do xơ vữa đã trình bày ở bài riêng.

Bệnh Raynaud gây thay đổi màu sắc da cân xứng cả hai bên. Mạch không yếu đi. Mạng tím xanh hình lưới và tím đầu chi là bệnh co thắt mạch và không ảnh hưởng đến mạch ngoại vi. Nó cũng không thấy nhợt nhạt sớm ở ngón chân mà thấy ở trong bệnh Raynaud.

Điều trị

Nguyên lý điều trị giống như là bệnh xơ vữa động mạch ngoại vi, nhưng kết quả lâu dài của bệnh Buerger là tốt hơn, khi điều trị nên điều trị bảo tồn hơn và nên cắt bỏ một cách tối thiểu.

Biện pháp chung

Thuốc lá phải bỏ hẳn, thầy thuốc phải kiên quyết cấm hút thuốc.

Bệnh có thể tiến triển nặng nếu không thực hiện lời khuyên này.

Phẫu thuật

Cắt bỏ thần kinh giao cám có thể có ích trong việc giảm những biểu hiện co thắt mạch bị bệnh và góp phần tạo tuần hoàn báng hệ đến da. Nó cũng làm giảm mất cơn đau lúc nghỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Nếu cần thiết cắt cụt ngón chân, cắt bỏ thần kinh giao cảm có thể góp phần hàn gán vết thương sau phẫu thuật.

Cắt cụt: Chỉ định cắt cụt giống như trong bệnh xơ vữa, dù rằng nó cần phải được duy trì hơn trên quan điểm bảo tồn các mô. Phấn lớn bệnh nhân bị bệnh Buerger mà được điều trị cẩn thận và dừng hút thuốc thì không phải phẫu thuật cắt cụt ngón tay hoặc ngón chân. Hầu hết không cần thiết cắt cụt toàn bộ tay, nhưng cắt dưới cổ chân là có thể cần thiết vì bị hoại tử hoặc đau nặng ở chân.

Tiên lượng

Trừ trường hợp bệnh tiến triển nhanh và nếu bệnh nhân ngừng hút thuốc lá và được chăm sóc tốt bàn chân thì tiên lượng bảo tồn của chi là tốt.


Bài xem nhiều nhất

Hạ huyết áp và sốc (chẩn đoán và điều trị)

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Tắc động mạch cấp (huyết khối động mạch cấp)

Tắc động mạch không hoàn toàn, mạn tính thuờng là do có thiết lập được tuần hoàn bàng hệ, và lưu lượng máu sẽ tăng qua tuần hoàn bàng hệ một khi có tắc tuần hoàn.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu (chẩn đoán và điều trị)

Tiền sử bị suy tim ứ trệ, mới phẫu thuật, khối u, dùng thuốc tránh thai đường uống, hoặc giãn tĩnh mạch; không hoạt động kéo dài cũng có thể là tiền tố bị bệnh.

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Viêm mạch bạch huyết có thể nhầm với viêm tĩnh mạch huyết khối nông, nhưng phản ứng ban đỏ đi kèm với huyết khối thường nằm trên nền cứng của phản ứng viêm ở tại hoặc xung quanh tĩnh mạch có huyết khối.

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Tím và đỏ đau đầu chi (rối loạn vận mạch)

Đỏ đau đầu chi là một rối loạn giãn mạch kịch phát cả hai bên, nguyên nhân chưa được biết. Đỏ đau đầu chi tự phát xuất hiện trên người khoẻ mạnh bình thường, hiếm khi ở trẻ em, ở nam giới và nữ giới là tương đương.

Giãn tĩnh mạch (chẩn đoán và điều trị)

Giãn, nổi chằng chịt, kéo dài tĩnh mạch dưới da ở đùi và chân nói chung nhìn thấy rõ khi đứng, tuy nhiên ở bệnh nhân béo phì có thể cần thiết phải sờ để phát hiện biểu hiện và vị trí.

Phù bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Đoạn viêm cấp hoặc mạn có thể cùng thêm vào, với tình trạng ứ trệ và xơ hóa tăng lên. Kết quả là chân sưng to, da và tổ chức dưới da xơ hóa và dày rõ và giảm các mô mỡ.

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud (rối loạn vận mạch)

Bệnh Raynaud hoặc hiện tượng Raynaud có tính chất xuất hiện từng đợt trắng hoặc tím hoặc trắng sau đó là tím ở ngón tay (hiếm khi ngón chân), xuất hiện khi lạnh hoặc khi xúc động.

Tắc động mạch đùi khoeo (chẩn đoán và điều trị)

Khập khiễng cách hồi thấy ở bắp chân và bàn chân. Teo riêng biệt phần thấp cẳng chân và bàn chân, với rụng lông và teo da và tổ chức dưới da, và giảm kích thước cơ.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.

Mạng xanh tím hình lưới trên da (rối loạn vận mạch)

Mạng xanh tím hình lưới phần lớn biểu hiện ở đùi và cẳng tay và có thể ở phía dưới bụng, phần lớn nó đước báo trước khi trời lạnh. Màu sắc có thể thay đổi thành màu hơi đỏ khi thời tiết ấm nhưng không phải biến mất hoàn toàn.

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân (chẩn đoán và điều trị)

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu thường gặp từ đoạn gốc đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu gốc và ở đoạn tận đến chỗ phân nhánh động mạch chủ.

Tắc mạch não (chẩn đoán và điều trị)

Tai biến mạch máu não thoáng qua có thể là biểu hiện sớm nhất của loét hoặc hẹp động mạch. Nó thường chỉ kéo dài trong vài phút nhưng có thể tái diễn trong 24 giờ.

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Suy tim ứ trệ và bệnh nhân mạn tính có thể gây phù cả hai bên cẳng chân, nhưng nói chung nó có những biểu hiện về lâm sàng và xét nghiệm của bệnh thận và tim.

Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.

Bệnh nghẽn động mạch do Cholesterol (chẩn đoán và điều trị)

Ở vài bệnh nhân xơ vữa động mạch nặng gồm cả động mạch chủ và các nhánh của nó, dễ dàng nhận thấy một hội chứng do các vi nghẽn mạch từ các mảng xơ vữa.

Viêm động mạch tự phát Takayasu (bệnh vô mạch, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Phình động mạch chủ bụng (chẩn đoán và điều trị)

Phình ở đoạn động mạch chủ ở trên ít gặp hơn. Đường kính của động mạch chủ dưới chỗ phân nhánh động mạch thận bình thường là 2 cm, khi đường kính vượt quấ 4 cm là nghi ngờ phình mạch.

Phình tách động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Máu lách vào thành động mạch chủ, gây tách động mạch chủ. Chỗ tách nói chung bắt đầu từ đoạn gốc động mạch chủ ngay trên van động mạch chủ hoặc đầu còn lại ở chỗ phân nhánh động mạch dưới đòn trái.

Thiểu năng động mạch nội tạng (thiếu máu cục bộ ruột)

Đột ngột xuất hiện đau thắt bụng liên tục hoặc như bó chặt ở thượng vị và quanh rốn phối hợp với thấy rất ít hoặc không có gì qua khám bụng và thường bạch cầu tăng cao gọi là một trong sự cố của hệ mạc treo tràng trên.

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thần kinh của đái tháo đường với giảm hoặc mất nhận cảm của ngón chân và bàn chân có thể có, đưa đến tổn thương hoặc đê doạ loét mà có thể không để ý bởi vì không có đau.

Bệnh xơ vữa động mạch có tắc (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và các nhánh của nó là nguyên nhân thường gặp gây ra tàn tật. Nó cũng là một xác nhận về tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tim mạch và những cuộc mổ mà họ trải qua.

Xem theo danh mục