Tắc động mạch cấp (nghẽn động mạch)

Ngày: 6 - 11 - 2016

Ở chân, triệu chứng đầu tiên thường là đau, tê cóng, lạnh và đau nhói. Không bắt được mạch ở động mạch bị tắc, lạnh, có những đốm hoặc xanh, giảm hoặc mất cảm giác và yếu, co thắt cơ, hoặc liệt.


Xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh động mạch. Tỷ lệ bệnh này tăng cùng với tuổi; dù rằng biểu hiện của bệnh có thể xuất hiện ở tuổi tứ tuần, nhưng khị trên 40 tuổi (đặc biệt nam giới) hầu hết thường bị nhiễm bệnh. Yếu tố nguy cơ gồm tăng cholerterol máu, đái tháo đường, hút thuốc lá và tăng huyết áp. Xơ vữa động mạch có xu hướng là một bệnh toàn thân với mức độ nào đó bao gồm tất cả các động mạch lớn, nhưng nó chỉ biểu hiện trên lâm sàng, khi tác động nặng nề vào một số hạn chế các động mạch. Hẹp và tắc lòng động mạch là biểu hiện thường gặp nhất của bệnh, nhưng thành động mạch suy yếu do mất elastin và collagen, kết quả làm giãn phình mạch cũng biểu hiện, và cả hai hậu quả này có thể biểu hiện trên cùng một cá thể. Các bệnh động mạch ít gặp hơn bao gồm viêm động mạch (cả động mạch lớn và nhỏ), viêm mạch tạo huyết khối nghẽn (bệnh Buerger), loạn sản xơ của động mạch nội tạng, viêm động mạch chủ do giang mai, và viêm động mạch lan toả.

Điểm chính trong chẩn đoán

Triêu chứng và dấu hiệu phụ thuộc vào động mạch tắc, cơ quan hoặc vùng mà bị tắc động mạch cung cấp máu, và tuần hoàn bàng hệ thích hợp đến vùng tắc.

Tắc ở chi thường gây đau, tê cóng, đau nhói, yếu chi và lạnh.

Có xanh xao hoặc những đốm; thay đổi về vận động, phản xạ và cảm nhận; và xẹp tĩnh mach nông.

Mạch có thể mất ở động mạch đoạn cuối của chỗ tắc. Tắc ở mỗi vùng khác nhau gây mỗi tình trạng riêng như tai biến mạch não, thiếu máu cục bộ và hoại thử ruột, nhồi máu lách hoặc thận.

Chẩn đoán phân biệt

Phân biệt chính là giữa nghẽn mạch và huyết khối mạch, ở bệnh nhân lớn tuổi có cả bệnh mạch do xơ vữa và bệnh tim mạch, phân biệt có thể rất khó khăn,

trong 10 - 20% chẩn đoán xác định là không thể chẩn đoán được có thể do tắc hoặc là co thắt.

Nghẽn động mạch (embolism) nói chung là biến chứng của bệnh tim, một số nhỏ có bệnh tim do thấp, nhưng phần lớn là bệnh tim thiếu máu cục bộ có hoặc không có nhồi máu cơ tim. Rung nhĩ thường có. Các dạng khác của bệnh tim và một số bệnh phối hợp là nguyên nhân phải tính tới. Ở 10% bệnh nhân có hơn một vị trí nghẽn mạch, và huyết khối tái phát sạu khi đã điều trị lần đầu thành công có thể xảy ra.

Nghẽn mạch có xu hướng ở chỗ phân nhánh của các động mạch lớn, với hơn nửa là ở phân nhánh các động mạch chủ hoặc các mạch ở chi dưới, mạch cảnh 20%, động mạch chi trên và mạch treo tràng chiếm số còn lại. Nghẽn mạch từ vết loét động mạch thường nhỏ, gây những triệu chứng thoáng qua ở ngón chân hoặc não.

Lâm sàng

Ở chân, triệu chứng đầu tiên thường là đau (xuất hiện đột ngột tăng dần), tê cóng, lạnh và đau nhói. Không bắt được mạch ở động mạch bị tắc, lạnh, có những đốm hoặc xanh, giảm hoặc mất cảm giác và yếu, co thắt cơ, hoặc liệt. Xẹp các tĩnh mạch nông. Sau đó, mụn và hoại tử ở da có thể xuất hiện, và hoại thư cũng có thể có.

Điều trị

Phẫu thuật ngay lấy mảnh nghẽn nghĩa là điều trị được lựa chọn trong hầu hết các trường hợp sớm của nghẽn mạch ở chi. Nó có thể làm tốt nhất trong 4 - 6 giờ, nó có thể thành công trong một thời gian dài nếu mô được cung cấp máu hồi phục lại.

Chăm sóc bệnh nhân trước mổ cấp cứu

Heparin: Heparin, 5000 đơn vị tiêm tĩnh mạch, nên dùng ngay sau khi có chẩn đoán hoặc nghi ngờ, sẽ có tác dụng ngăn cản huyết khối, tiếp tục dùng cho đến khi phẫu thuật và duy trì thời gian của thromboplastin từng phẩn ở mức gấp đôi bình thường. Nó cũng có thể giúp làm mất những cơn co thắt.

Bảo vệ từng phần: Nên giữ chi ở vị trí thấp hơn mặt giường, và không để ở nơi nóng hoặc lạnh quá. Nên nằm trên những đệm cứng và đệm giường.

Hình ảnh: Chụp mạch thường có giá trị trước và trong phẫu thuật; các xét nghiệm cản âm, dù vẫn còn là chuẩn và thích hợp ở một vài trung tâm, nhưng càng ngày càng bị thay thế bởi chụp mạch bằng cộng hưởng từ hạt nhân. Có thể có nhiều cục nghẽn ở các chi. Xác định bằng siêu âm để tìm nguồn gốc, và siêu âm qua đường thực quản làm tăng độ nhậy của xét nghiệm này.

Phẫu thuật

Phong bế tại chỗ nói chung được sử dụng nếu khi tắc một động mạch đến một chi. Sau khi phẫu thuật mạch máu giải phóng chỗ nghẽn, động mạch đoạn gốc và tận nên được kiểm tra huyết khối thứ phát hoặc đoạn nghẽn kèm theo bằng một dây thông thiết kế đặc biệt với một quả bóng nhỏ thổi phồng ở đầu dây (dây thông Fogarty). Nghẽn ở chỗ phân nhánh động mạch chủ hoặc ở động mạch chậu thường có thể giải phóng bằng một dây thông như vậy qua đường phẫu thuật động mạch đùi chung. Mở bụng là cần thiết cho nghẽn ở hệ mạch mạc treo. Chỉ định dùng heparin 1 tuần hoặc hơn sau mổ, và dùng thuốc chống đông kéo dài bằng warfarin để dự phòng tái phát.

Mổ lấy nghẽn mạch chậm tiến hành hơn 12 giờ sau khi có nghẽn mạch hoặc khi có thiếu máu cục bộ hoặc hoại tử với những bằng chứng như xanh tím, cứng cơ, mất cảm giác hoặc tăng nồng độ CK rõ rệt bao gồm nguy cơ cao của hội chứng suy hô hấp cấp tính hoặc suy thận cấp (hoặc cả hai). Điều trị chống đông đầu tiên là thích hợp hơn là phẫu thuật hoặc lấy nghẽn mạch bằng dây thông trong những điều kiện như vậy, trong trường hợp đó phần lớn phải cắt cụt cấp cứu hoặc lựa chọn vì cần thiết phải cứu tính mạng bệnh nhân.

Tiên lượng

Nghẽn động mạch không chỉ đe doạ đển chi (5 - 25% tỷ lệ cắt cụt) mà còn đe doạ đến cuộc sống của bệnh nhân (25 - 30% tỷ lệ tử vong bệnh viện, với bệnh tim có sẵn gây quá một nửa trường hợp tử vong).

Nghẽn mạch ở động mạch vùng chủ - chậu nguy hiểm hơn nghẽn mạch ngoại vi, và tỷ lệ tử vong tăng lên nếu nghẽn mạch ngoại vi ở nhiều chỗ hoặc mạch cảnh hoặc nghẽn mạch nội tạng, và gần 100% nếu nghẽn mạch cả ở ba vùng. Nghẽn mạch phối hợp với tăng huyết áp hoặc bệnh tim xơ vữa có tiên lượng xấu hơn là nghẽn ở bệnh van tim do thấp.

ở bệnh nhân rung nhĩ, lập lại nhịp xoang bằng thuốc hoặc sốc điện sau khi bệnh nhân đã dùng thuốc chông đông; lập lại nhịp xoang bình thường có xu hướng lâu dài chỉ ở trên bệnh nhân mối xuất hiện hoặc rung nhỉ thoáng qua. Điều trị chống đông kéo dài làm giảm nguy hiểm của nghẽn mạch mới và là biện pháp chính ở bệnh nhân cần dự phòng lâu dài.

Nếu không có bệnh tim, chụp động mạch có thể thấy loét do xơ vữa hoặc phình mạch nhỏ là nguồn gốc của nghẽn mạch; tùy thuộc vào vị trí mà nó có thể điều trị phẫu thuật. 3/4 bệnh nhân sống sót và kết hợp với điều trị ở bệnh viện có thể sẽ có cuộc sống tốt đẹp.


Bài xem nhiều nhất

Hạ huyết áp và sốc (chẩn đoán và điều trị)

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Tắc động mạch cấp (huyết khối động mạch cấp)

Tắc động mạch không hoàn toàn, mạn tính thuờng là do có thiết lập được tuần hoàn bàng hệ, và lưu lượng máu sẽ tăng qua tuần hoàn bàng hệ một khi có tắc tuần hoàn.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch sâu (chẩn đoán và điều trị)

Tiền sử bị suy tim ứ trệ, mới phẫu thuật, khối u, dùng thuốc tránh thai đường uống, hoặc giãn tĩnh mạch; không hoạt động kéo dài cũng có thể là tiền tố bị bệnh.

Viêm mạch huyết khối tắc nghẽn (Bệnh buerger, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh Buerger là một quá trình từng đợt từng đoạn bị nhiễm khuẩn và huyết khối ở động mạch và tĩnh mạch, chủ yếu ở chân. Nguyên nhân chưa được biết.

Viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Viêm mạch bạch huyết có thể nhầm với viêm tĩnh mạch huyết khối nông, nhưng phản ứng ban đỏ đi kèm với huyết khối thường nằm trên nền cứng của phản ứng viêm ở tại hoặc xung quanh tĩnh mạch có huyết khối.

Giãn tĩnh mạch (chẩn đoán và điều trị)

Giãn, nổi chằng chịt, kéo dài tĩnh mạch dưới da ở đùi và chân nói chung nhìn thấy rõ khi đứng, tuy nhiên ở bệnh nhân béo phì có thể cần thiết phải sờ để phát hiện biểu hiện và vị trí.

Tím và đỏ đau đầu chi (rối loạn vận mạch)

Đỏ đau đầu chi là một rối loạn giãn mạch kịch phát cả hai bên, nguyên nhân chưa được biết. Đỏ đau đầu chi tự phát xuất hiện trên người khoẻ mạnh bình thường, hiếm khi ở trẻ em, ở nam giới và nữ giới là tương đương.

Phù bạch huyết (chẩn đoán và điều trị)

Đoạn viêm cấp hoặc mạn có thể cùng thêm vào, với tình trạng ứ trệ và xơ hóa tăng lên. Kết quả là chân sưng to, da và tổ chức dưới da xơ hóa và dày rõ và giảm các mô mỡ.

Viêm tĩnh mạch huyết khối ở tĩnh mạch nông (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân thường đau âm ỉ ở vùng tĩnh mạch bị bệnh. Dấu hiệu tại chỗ bao gốm xơ cứng, đỏ, và nhạy cảm đau dọc theo tĩnh mạch. Tiến trình này có thể tại chỗ, hoặc có thể ở hầu hết tĩnh mạch hiển dài và các nhánh của nó.

Tắc động mạch đùi khoeo (chẩn đoán và điều trị)

Khập khiễng cách hồi thấy ở bắp chân và bàn chân. Teo riêng biệt phần thấp cẳng chân và bàn chân, với rụng lông và teo da và tổ chức dưới da, và giảm kích thước cơ.

Bệnh raynaud và hiện tượng raynaud (rối loạn vận mạch)

Bệnh Raynaud hoặc hiện tượng Raynaud có tính chất xuất hiện từng đợt trắng hoặc tím hoặc trắng sau đó là tím ở ngón tay (hiếm khi ngón chân), xuất hiện khi lạnh hoặc khi xúc động.

Mạng xanh tím hình lưới trên da (rối loạn vận mạch)

Mạng xanh tím hình lưới phần lớn biểu hiện ở đùi và cẳng tay và có thể ở phía dưới bụng, phần lớn nó đước báo trước khi trời lạnh. Màu sắc có thể thay đổi thành màu hơi đỏ khi thời tiết ấm nhưng không phải biến mất hoàn toàn.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ (chẩn đoán và điều trị)

Ở giai đoạn sớm, đau, nhạy cảm với đau, tăng cảm có thể đúng ở vị trí vùng tổn thương, và chi có thể ấm, khô, lồi, và đỏ hoặc tím nhẹ. Chi được giữ ở vị trí cố định bởi những khối cơ, và móng tay gồ lên và lông dài ra.

Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân (chẩn đoán và điều trị)

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và động mạch chậu thường gặp từ đoạn gốc đến chỗ phân nhánh của động mạch chậu gốc và ở đoạn tận đến chỗ phân nhánh động mạch chủ.

Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Suy tim ứ trệ và bệnh nhân mạn tính có thể gây phù cả hai bên cẳng chân, nhưng nói chung nó có những biểu hiện về lâm sàng và xét nghiệm của bệnh thận và tim.

Tắc tĩnh mạch chủ trên (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện của triệu chứng thường cấp hoặc bán cấp. Triệu chứng bao gồm sưng nề ở cổ, mặt, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, trạng thái sững sờ, hoặc ngất.

Tắc mạch não (chẩn đoán và điều trị)

Tai biến mạch máu não thoáng qua có thể là biểu hiện sớm nhất của loét hoặc hẹp động mạch. Nó thường chỉ kéo dài trong vài phút nhưng có thể tái diễn trong 24 giờ.

Bệnh nghẽn động mạch do Cholesterol (chẩn đoán và điều trị)

Ở vài bệnh nhân xơ vữa động mạch nặng gồm cả động mạch chủ và các nhánh của nó, dễ dàng nhận thấy một hội chứng do các vi nghẽn mạch từ các mảng xơ vữa.

Viêm động mạch tự phát Takayasu (bệnh vô mạch, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vô mạch phải được phân biệt với các tổn thương mạch ở quai động mạch chủ do xơ vữa, dù rằng do xơ vữa ở cả hai chi đưâi có biểu hiện khác nhau. Về mô học, tổn thương động mạch phân biệt với viêm động mạch tế bào khổng lồ.

Bệnh động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thần kinh của đái tháo đường với giảm hoặc mất nhận cảm của ngón chân và bàn chân có thể có, đưa đến tổn thương hoặc đê doạ loét mà có thể không để ý bởi vì không có đau.

Phình động mạch chủ bụng (chẩn đoán và điều trị)

Phình ở đoạn động mạch chủ ở trên ít gặp hơn. Đường kính của động mạch chủ dưới chỗ phân nhánh động mạch thận bình thường là 2 cm, khi đường kính vượt quấ 4 cm là nghi ngờ phình mạch.

Phình tách động mạch chủ (chẩn đoán và điều trị)

Máu lách vào thành động mạch chủ, gây tách động mạch chủ. Chỗ tách nói chung bắt đầu từ đoạn gốc động mạch chủ ngay trên van động mạch chủ hoặc đầu còn lại ở chỗ phân nhánh động mạch dưới đòn trái.

Thiểu năng động mạch nội tạng (thiếu máu cục bộ ruột)

Đột ngột xuất hiện đau thắt bụng liên tục hoặc như bó chặt ở thượng vị và quanh rốn phối hợp với thấy rất ít hoặc không có gì qua khám bụng và thường bạch cầu tăng cao gọi là một trong sự cố của hệ mạc treo tràng trên.

Bệnh xơ vữa động mạch có tắc (chẩn đoán và điều trị)

Tắc động mạch chủ và các nhánh của nó là nguyên nhân thường gặp gây ra tàn tật. Nó cũng là một xác nhận về tỷ lệ tử vong của bệnh nhân tim mạch và những cuộc mổ mà họ trải qua.

Xem theo danh mục