Các bệnh phổi kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 14 - 10 - 2016

Các bệnh phổi kẽ có các biểu hiện X quang, sinh lý, lâm sàng chung. Khó thở khi gắng sức và ho khan lúc đầu âm ì là các triệu chứng biểu hiện thường gặp.

Bệnh phổi kẽ

Các bệnh phổi kẽ gồm nhóm các rối loạn ngoại sinh có biểu hiện chung viêm và xơ vách liên phế nang, biểu thị phản ứng của phổi đối với các tổn thương do các nguyên nhân khác nhau gây ra. Khoảng 180 bệnh tham gia vào các biểu hiện của bệnh phổi kẽ (bảng). Trong đa số bệnh nhân không tìm thấy một nguyên nhân đặc hiệu nào. Trong số còn lại thì thuốc và các loại bụi vô cơ và hữu cơ là các nguyện nhân nổi trội.

Bảng. Các bệnh phổi kẽ chọn lọc

Nguyên nhân đã biết

Các bụi vô cơ

+ Silic.

+ Silicat (gồm ,cả amian).

+ Nhôm.

+ Antimoan.

+ Carbon.

+ Beryl.

Các bụi kim loại nặng

Các bụi hữu cơ (viêm phổi qúa mẫn)

Các khí, khói, hơi nước

+ Chlor.

+ Sultur dioxid.

+ Thủy ngân.

Các thuốc

+ Các tác nhân chống ung thư.

+ Các kháng sinh.

++ Sulíonamid.

++ Penicillin.

++ Nitroturantoiri.

++ Các thuốc gây luput ban đỏ.

++ Sulfonyl urea.

++ Vàng.

++ Phenytoin.

++ Penicillamin.

++ Amiodaron.

Các thuốc độc.

+ Thuốc diệt cỏ hết súc dộc (Paraquat).

Tia xạ.

Các nhiễm khuẩn.

+ Nhiễm nấm hay nhiễm trực khuẩn lao rải rác.

+ Viêm phổi do virus.

+ Viêm phổi do Pneumocystis carinii.

Chất cặn thừa của nhiễm khuẩn hoạt tính bất kỳ typ nào.

Phù phổi.

Carcinoma bạch huyết.

Nguyên nhân chưa biết

Viêm phế nang xơ.

Bệnh sarcoid.

Bệnh u hạt tế bào Langerhans.

Bệnh thấp kết hợp với hội chứngGoodpasture.

Nhiễm huyết tố phổi không rõ nguyên nhân.

Bệnh u hạt Wegenen.

U hạt dạng u lympho.

Hội chứng Churg-Strauss.

Bệnh hạch bạch huyết của nguyên bào miễn dịch mạch máu.

Các bệnh di truyền.

Xơ cúng có củ.

Bệnh u xơ thần kinh.

Bệnh tắc tĩnh mạch phổi.

Thoái hóa dột sống cứng khớp.

Thoái hóa dạng tinh bột.

Viêm phổi tăng bạch cầu ưa eosin mạn tính.

Bệnh u cơ mạch bạch huyết phổi.

Bệnh Whipple.

Nhiễm protein phế nang.

Bệnh viêm ruột kết hợp.

Sinh bệnh học của bệnh là do phổi bị tổn thương gây ra viêm vách liên phế nang (viêm phế nang). Viêm phế nang dai dẳng có thể dẫn đến xơ kẽ không hồi phục.

Các bệnh phổi kẽ có các biểu hiện X quang, sinh lý, lâm sàng chung. Khó thở khi gắng sức và ho khan lúc đầu âm ì là các triệu chứng biểu hiện thường gặp. Khám thực thể đáng chú ý có tiếng rên nổ nhỏ hạt thì hít vào ở đáy phổi. Ngón tay thường dùi trống. Chức năng phổi có rối loạn thông khí hạn chế, giảm khả năng khuếch tán của carbon monoxid. Thiếu oxy máu, đặc biệt khi hoạt động thường thấy. Trên phim X quang lồng ngực có hình mờ lan tỏa, hình nốt, hình lưới hay các thâm nhiễm lưới - nốt có thể phát triển thành hình "phổi rỗ tổ ong", chụp X quang phổi cũng có khi thấy bình thường mặc dù sinh thiết phổi đã chứng tỏ có bệnh phổi kẽ. X quang thường và CT lồng ngực gần đây đã chứng tỏ có giá trị trong việc đánh giá bệnh phổi kẽ thâm nhiễm lan tỏa mạn tính, các nhà X quang có kinh nghiệm có thể có ý kiến chẩn đoán chính xác bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi amian, xơ phổi không rõ nguyên nhân, bệnh ung thư mạch bạch huyết và bệnh sarcoid qua CT.

Nghiên cứu tiền sử, khám lâm sàng, X quang lồng ngực và xét nghiệm cận lâm sàng có thể giúp phát hiện nguyên nhân đặc hiệu của bệnh phổi kế. Đờm có ít hoặc không có. Quy nạp đờm để có thông tin cho chẩn đoán chỉ thường có ích khi đó là nhiễm khuẩn phổi hoặc nguyên nhân ác tính. Các kỹ thuật đánh giá nghi sự tiến triển của viêm phế nang được đặt ra nhằm cố gắng nhận định được bệnh nhân có thích hợp với điều trị chống viêm không. Các kỹ thuật đó là sinh thiết phổi, rửa phế nang - phế quản và chụp quét phổi bằng gallium - 67.

Sinh thiết xuyên phế quản dùng ống soi phế quản; sợi quang học dễ thực hiện và có tỷ lệ biến chứng thấp nhưng mẫu bệnh phẩm lấy ra ít nền thường có sai lạc do mẫu. Sinh thiết lồng ngực mở cho mẫu bệnh phẩm lớn nhưng tỷ lệ biến chứng cao. Các sinh thiết xuyên phế quản và rửa phế quản có thể đủ để cho phép chẩn đoán bệnh như bệnh sarcoid, bệnh mô bào X, viêm phổi do P. carinii, lao kê, nhiễm protein phế nang phổi, ung thư mạch bạch huyết. Mặt khác, các bệnh nhân bị suy sụp nhanh nên làm sinh thiết ngoại khoa xác định hơn là làm sinh thiết xuyên phế quản vì khả năng chẩn đoán ít. Chọn lựa giữa 2 loại này thường khó. có lẽ bắt đầu nên làm sinh thiết xuyên phế quản cho hầu hết bệnh nhân vì tỷ lệ biến chứng của kỹ thuật này thấp. Nguy biến của sinh thiết xuyên phế quản gồm mọi nguy biến của soi phế quản thông thường thêm vào đó còn có tràn khí màng phổi (khoảng 5%), chảy máu (1- 9%). Nếu rửa phế quản phế nang hay sinh thiết xuyên phế quản không chẩn đoán được phải dùng các chẩn đoán đặc hiệu sinh thiết phổi bằng phẫu thuật qua soi lồng ngực hay mở lồng ngực. Kết hợp video khi soi lồng ngực trở nên phổ thông hơn là mở lồng ngực để lấy mẫu bệnh phẩm làm sinh thiết.

Rửa phế quản phế nang thì hữu dụng trong chẩn đoán viêm phổi do P. carinii và với các bệnh nhân được chọn lọc có nhiễm khuẩn phổi do các vi sinh vật khác (trực khuẩn: lao, nấm, cytomegalovirus và các chủng Legionella). Kỹ thuật này đôi khi cũng dùng để chẩn đoán ung thư phổi, nhiễm protein phế nang phổi, bệnh mô bào X, bệnh phổi do beryl gây ra, viêm phổi do amiodaron hay chảy máu phổi ở bệnh nhân giảm tiểu cầu. Trong các nghiên cứu đi, tỷ lệ phần trăm lympho bào T rất cao trong dịch rửa phế quản phế nang gợi chẩn đoán đến bệnh sarcoid hoặc viêm phổi qúa mẫn, một tỷ lệ vượt trội bạch cầu trung tính, ái toan và đại thực bào gợi chẩn đoán xơ phổi không rõ nguyên nhân, chụp quét với Ga 67 không đặc hiệu và không có giá trị chẩn đoán ở bệnh nhân có bệnh phổi kẽ mặc dù nó có thể có một số vai trò trong xử lý cho bệnh nhân ngoại trú bị viêm phổi do P. carinii.

Tổn thương phổi kẽ do các bệnh khác

Bệnh phổi kẽ về lâm sàng giống viêm phế nang xơ nguồn gốc ẩn đã được mô tả trong nhiều dạng vẻ khác nhau của bệnh thấp. Nó cũng thường có trong viêm gan hoạt tính mạn tính, viêm nhiễm ruột, xơ gan do mật, giảm tiểu cầu tự miễn và thiếu máu tan huyết. Dù các biểu hiện khác của các bệnh này thường át cả biểu hiện lâm sàng bệnh phổi kẽ, có thể nó vẫn có triệu chứng và tiến triển tới suy hô hấp. Điều trị thuốc chống viêm nên tiến hành như đối với bệnh viêm phế nang xơ nguồn gốc ẩn. Viêm phổi kẽ không đặc hiệu chỉ tổn thương phế nang lan tỏa nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn còn trong mọi giai đoạn viêm phổi ở bệnh nhân AIDS thì 1/3 có dấu hiệu này.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.

Hội chứng tăng thông khí (chẩn đoán và điều trị)

Tăng thông khí là sự tâng thông khi phế nang gây ra nhược thán. Nó có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu oxy máu, các bệnh phổi thâm nhiễm và tắc nghẽn, nhiễm khuẩn, rối loạn chức náng gan, sốt và đau.

Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi (chẩn đoán bệnh hô hấp)

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Hen phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện được định nghĩa là viêm phổi xảy ra từ trên 48 giờ sau khi vào viện, là một trong những nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật và tử vong của bệnh nhân nằm viện.

Viêm khí phế quản cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu thực thể rất ít hay không có. Sau khi ho ra nhiều đờm, nghe phổi có thể mất tiếng ran ngáy nhưng khò khè vẫn còn. Các dấu hiệu đông đặc phổi không có.

Bệnh xơ nang (chẩn đoán và điều trị)

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Viêm phổi (chẩn đoán và điều trị)

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi.

Tràn dịch màng phổi (chẩn đoán và điều trị)

Có 5 loại tràn dịch màng phổi chủ yếu là tràn dịch màng phổi dịch thấm, dịch rỉ, mủ màng phổi, chảy máu hay tràn máu lồng ngực và dưỡng chấp hay tràn dịch dưỡng chấp.

Bệnh Sarcoid (chẩn đoán và điều trị)

Những vị trí có thể làm sinh thiết được như các hạch bạch huyết sờ thấy được, các tổn thương ở da hay ở tuyến nước bọt chỉ định cho làm sinh thiết sẽ giúp thêm bằng chứng cho chẩn đoán.

Nốt phổi đơn độc (chẩn đoán và điều trị)

Các thử nghiệm da và huyết thanh chẩn đoán tìm nấm không giúp gì cho chẩn đoán. Xét nghiệm đờm tìm tế bào phải làm để đánh giá nốt phổi lớn khu trú ở trung tâm.

Tắc đường hô hấp (chẩn đoán và điều trị)

Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.

Tràn khí màng phổi tự phát (chẩn đoán và điều trị)

Tràn khí màng phổi thứ phát xảy ra như một biến chứng của COPD, hen, xơ nang, lao và cac bệnh phổi thâm nhiễm các loại gồm cả viêm phổi pneumocystis.

Các test chẩn đoán bệnh phổi (test chức năng, test luyện tập và soi phế quản)

Đo phế dung và đo các thể tích phổi cho phép xác định có rối loạn chức năng phổi hạn chế hay tắc nghẽn không. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn được xác định khi các tỷ lệ dòng khí giảm.

Xem theo danh mục