Áp xe gan sinh mủ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 1 - 2016

Biểu hiện thường là âm thầm. Sốt hầu như luôn có và có thể xảy ra trước các triệu chứng hoặc dấu hiệu khác. Đau có thể là triệu chứng nổi bật và khu trú ở hạ sườn phải hoặc thượng vị. Họàng đảm, nhạy cảm đau ở bụng trên bên phải và sốt dao động hoặc không dao động là các dấu hiệu thực thể chủ yếu.

Gan có thể bị vi khuẩn xâm nhập qua (1) tĩnh mạch cửa (viêm tĩnh mạch cửa); (2) ống mật chủ (viêm ống mật lên); (3) động mạch gan, thứ phát do nhiễm khuẩn huyết; (4) sự lan rộng trực tiếp từ tiến trình nhiễm trùng; (5) vi khuẩn xâm nhập qua thành bụng bị chấn thương.

Viêm ống mật từ dưới lên do tắc mật do sỏi, chít hẹp hoặc u, là những nguyên nhân phổ biến nhất có thể xác định của áp xe gan ở Mỹ. Khoảng 10% các trường hợp áp xe gan là thứ phát do viêm ruột thừa hoặc viêm túi thừa. Từ 10- 40% áp xe không xác định đựợc nguyên nhân và được phân loại như căn nguyên ẩn. Chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến nhất là: Escherichia coli, Proteus vulgaris, Enterobacter aerogenes, và nhiều loài kỵ khí khác. Nhiễm candida ở gan gặp ở những bệnh nhân bị tổn thương hệ miễn dịch và những bệnh nhân có bệnh máu ác tính.

Các biểu hiện của lâm sàng

Biểu hiện thường là âm thầm. Sốt hầu như luôn có và có thể xảy ra trước các triệu chứng hoặc dấu hiệu khác. Đau có thể là triệu chứng nổi bật và khu trú ở hạ sườn phải hoặc thượng vị. Họàng đảm, nhạy cảm đau ở bụng trên bên phải và sốt dao động hoặc không dao động là các dấu hiệu thực thể chủ yếu.

Xét nghiệm thường có tăng bạch cầu với công thức bạch cầu chuyển trái. Các xét nghiệm chức năng gan bất thường không đặc hiệu. Chụp X quang ngực thường cho thấy sự nhô lên của cơ hoành nếu áp xe ở bên phải. Siêu âm, CT scan hoặc MRI có thể chỉ ra những khiếm khuyết trong gan. Trên MRI, những dấu hiệu đặc trưng bao gồm tăng tín hiệu trên các hình ảnh T2 và tăng viền ngoại vi. Nhiễm candida ở gan thường gặp trong bệnh candida hệ thống và hình ảnh đặc trưng trên CT scan là đa hồng tâm nhưng các xét nghiệm hình ảnh có thể âm tính ở những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính.

Điều trị

Điều trị nên gồm các kháng sinh (cephalosporin thế hệ ba và metronidazol), là thuốc có hiệu quả kháng các vi sinh vật dạng coli và kỵ khí. Nếu áp xe có đường kính > 5cm hoặc không đáp ứng nhanh với liệu pháp kháng sinh thì nên tiến hành dẫn lưu bằng phẫu thuật hoặc catheter. Tỷ lệ tử vong vẫn còn đáng kể (10- 25%) và cao nhất ở những bệnh nhân có bệnh ác tính đường mật hoặc rối loạn hoạt động đa cơ quan nặng. Nhiễm candida gan thường đáp ứng với amphotericin B đường tĩnh mạch (tổng liều 2- 9g). Những áp xe do nấm kèm theo tỷ lệ tử vong cao tới 50% và được điều trị bằng amphotericin B đường tĩnh mạch và dẫn lưu.


Bài xem nhiều nhất

Viêm túi mật cấp (chẩn đoán và điều trị)

Cơn cấp thường được thúc đẩy bởi một bữa ăn quá no hoặc quá nhiều chất béo và được đặc trưng bằng sự xuất hiện tương đối đột ngột của đau bụng liên tục và dữ dội, khu trú ở vùng thượng vịì hoặc hạ sườn phải.

Viêm gan virus (chẩn đoán và điều trị)

Ở những người tổn thương miễn dịch nên cân nhắc chẩn đoán phân biệt viêm gan với nhiễm cytomegalovirus, Epstein Barr virus, và herpes simplex vẫn còn những tác nhân chưa được xác định để giải thích cho phần trăm nhỏ các trường hợp có biểu hiện viêm gan virus cấp tính.

Viêm gan do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Sinh thiết gan thường là để chẩn đoán và chỉ ra sự thâm nhiễm PMN, mỡ ở mạch máu lớn với hoại tử gan, và các thể Mallory (hyalin cồn). Xơ gan dạng nốt nhỏ có thể có.

Viêm tụy mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Những đợt tái phát hoặc dai dẳng của đau vùng thượng vị và phần tư bụng trên bên trái lan tới vùng lưng trên bên trái là điển hình. Chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi và sụt cân là thường gặp.

Xơ gan (chẩn đoán và điều trị)

Xơ gan nốt to được đặc trưng bằng những nốt lớn có thể đo được vài centimet đường kính và có thể có các tĩnh mạch ở trung tâm. Thể này ít nhiều phù hợp với xơ gan sau hoại tử nhưng không nhãt thiết là tiếp sau những giai đoạn của hoại tử lớn và xẹp chất đệm.

Khối u gan lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Trong một số trường hợp được lựa chọn, cắt qua nội soi có thể là dễ dàng. Sự thoái lui của những khối u gan lành tính có thể xảy ra sau khi ngừng các viên uống tránh thai.

Tắc tĩnh mạch gan (hội chứng Budd Chiari) (chẩn đoán và điều trị)

 Những biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm gan to đau, nhạy cảm đau; hoàng đảm; lách to; và cổ trướng. Khi bệnh tiến triển, giãn tĩnh mạch chảy máu và hôn mê gan có thể là rõ rệt.

Viêm tụy cấp (chẩn đoán và điều trị)

Đau bụng vùng thượng vị, thường khởi phát đột ngột, và đau liên tục, dữ dội, nặng hơn khi đi lại, nằm ngửa và giảm khi ngồi ngả người ra phía trước. Đau thường lan ra sau lưng nhưng có thể lan sang bên phải hoặc bên trái.

Chẩn đoán hoàng đản (đảm, vàng da)

Mệt mỏi hoặc đau bụng, lưng có thể gặp trong cơn huyết tán cấp. Màu sắc của phân và nước tiểu bình thường, có hoàng đảm nhẹ, tăng bilirubin gián tiếp trong máu nhưng không có bilirubin trong nước tiểu và lách to, trừ trường hợp thiếu máu hồng cầu liềm.

Carcinoma tụy và vùng quanh bóng Vater (chẩn đoán và điều trị)

Với carcinoma đầu tụy, chụp phim hàng loạt đường tiêu hóa trên có thể cho thấy có sự giãn rộng của quai tá tràng, những bất thường niêm mạc của tá tràng, thay đổi từ phù nề đến xâm lấn hoặc loét, hoặc co thắt, hoặc chèn ép.

Sỏi mật (chẩn đoán và điều trị)

Sỏi mật được xếp loại theo thành phần hóa học như sỏi có chứa chủ yếu cholesterol và chứa chủ yếu calci bilirubinat. Loại sau ít hơn 20% sỏi ở châu Âu hoặc Mỹ nhưng chiếm 30- 40% sỏi ở Nhật Bản.

Gan nhiễm mỡ và viêm gan mỡ không do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Thọái hóa mỡ vi mạch gặp trong hội chứng Reye, ngộ độc acid valproic, liều cao tetracyclin, hoặc gan nhiễm mỡ cấp tính lúc có thai và có thể dẫn đến suy gan tối cấp.

Xơ gan mật tiên phát (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng trong nhiều năm và thời gian sống trung bình sau khi các triệu chứng xuất hiện là 10 năm. Khởi phát bệnh âm thầm và được báo trước bằng biểu hiện ngứa.

Bệnh sỏi ống mật chủ và viêm đường mật

Có bilirubin niệu và tăng bilirubin huyết thanh nếu ống mật chủ bị tắc nghẽn; mức độ thường dao động. Tăng phosphatase kiềm huyết thanh đặc biệt gợi ý tới hoàng đảm có tắc nghẽn.

Carcinoma đường mật (chẩn đoán và điều trị)

Hoàng đảm tăng lên là dấu hiệu phổ biến nhất và thường là dấu hiệu đầu tiên của tắc nghẽn hệ thống đường mật ngoài gan. Đau thường có ở phần tư trên bên phải của bụng và lan ra sau lưng. Chán ăn và sụt cân là thường gặp và hay đi kèm với sốt, ớn lạnh.

Xem theo danh mục