Cốt tủy viêm cấp do vi khuẩn sinh mủ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 1 - 2017

Salmonella gây ra nhiều trường hợp nhiễm khuẩn huyết với tế bào hình liềm. Trong số những bệnh nhân bị các bệnh huyết sắc tố, cốt tủy viêm do vi khuẩn thương hàn thường gặp gấp 10 lần so với những vi khuẩn sinh mủ khác.

Nhiễm khuẩn trực tiếp xương gây ra do gãy xương hở, các thủ thuật ngoại khoa, vết thương hoả khí, chọc hút kim chẩn đoán và do tiêm thuốc điều trị hoặc do người bệnh tự ý tiêm.

Nhiễm khuẩn gián tiếp hay thứ phát trước hết thường do nhiễm khuẩn ở những nơi khác trong cơ thể và lan tới xương theo đường máu.

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Sốt rét run kèm theo đau và tăng cảm giác đau tại chỗ xương bị viêm.

Chọc hút vùng tổn thương xượng thường có ý nghĩa chẩn đoán.

Cấy máu hoặc cấy tổ chức tổn thương là cân thiết cho chẩn đoán xác định.

X quang giai đoạn sốm thường bình thường.

Nhận định chung

Nhiễm khuẩn xương ban đầu thường gián tiếp do một loại vi khuẩn sinh mủ gây nên trong khoảng 95% trường hợp. Khoảng 75% trường hợp nhiễm khuẩn xương cấp truyền bằng đường máu là do tụ cầu; tiếp theo là liên cầu tan huyết nhóm A. Cốt tủy viêm đốt sống, thường do những vi khuẩn ít độc tính hơn, ngày càng trở nên thường gặp ở những bệnh nhân già. Trong số những người nghiện chích tĩnh mạch, các vi khuẩn Gram dương (như tụ cầu) và trực khuẩn đường ruột (như E. Coli) chiếm tới 80%. các trường hợp cốt tủy viêm. Nhiễm khuẩn xương do chấn thương thường do tạp khuẩn.

Salmonella gây ra nhiều trường hợp nhiễm khuẩn huyết với tế bào hình liềm. Trong số những bệnh nhân bị các bệnh huyết sắc tố, cốt tủy viêm do vi khuẩn thương hàn thường gặp gấp 10 lần so với những vi khuẩn sinh mủ khác. Mặt khác, với những bệnh nhân khoẻ mạnh do salmonella, tổn thương xương thường xuất hiện ở một vị trí. Mặc dù vậy, trong bệnh thương hàn, biến chứng nhiềm khuẩn xương chỉ xuất hiện với tỉ lệ dưới 10%.

Nhiễm khuẩn xương là một biến chứng ít gặp của bệnh do brucella, nhưng bệnh cảnh lâm sàng thường rất đặc trưng. Tổn thương xương hầu hết gặp ở cột sống thắt lưng hoặc khớp cùng chậu.

Lâm sàng

Khởi phát của cốt tủy viêm cấp ở người lớn ít khi đột ngột và rầm rộ như vẫn thường thấy ở trẻ em. Các triệu chứng của nhiễm độc toàn thân của nhiễm khuẩn huyết có thể không có và cảm giác đau mơ hồ hoặc thoáng qua có thể là những biểu hiện sớm nhất. Tăng cảm giác đau tại chỗ có thể có hoặc không, tùy thuộc vào mức độ lan rộng của tổn thương và thời gian bị bệnh.

Xét nghiệm

Chọc hút xương và màng xương để cấy tìm vi khuẩn rất cần thiết cho chẩn đoán chính xác. Cấy máu thường dương tính, đậc biệt khi có bệnh nhân có những triệu chứng toàn thân rõ; trong những trường hợp này số lượng bạch cầu và máu lắng thường tăng.

Trong trường hợp nhiễm khuẩn do Salmonella hoặc Brucella, tăng hiệu giá ngưng kết huyết thanh có thể giúp cho chẩn đoán trong giai đoạn cấp. Cấy bệnh phẩm lấy từ ổ tổn thương xương thường rất đặc hiệu.

Thăm dò hình ảnh

Những dấu hiệu sớm gồm sưng phần mềm, mất ranh giới các mô và mất chất khoáng xương cạnh khớp. Khoảng 2 tuần sau khi khởi phát triệu chứng, hình ảnh hủy xương và thay đổi cấu trúc bè xương xuất hiện, sau đó là viêm màng xương. Hình ảnh chụp đồng vị phóng xạ đặc biệt, trở nên dương tính trong vòng 1 - 2 ngày sau khởi phát cốt tủy viêm cấp. Chụp quét CT và chụp cộng hưởng từ cũng nhậy hơn X quang thường qui và đặc biệt có ích để đánh giá mức độ tổn thương của phần mềm. Trong cốt tủy viêm đốt sống, tổn thương thường lan vào khe đĩa đệm - một dấu hiệu không thấy trong trường hợp bị khối u.

Chẩn đoán phân biệt

Cốt tuý viêm cấp lây truyền bằng đường máu nên phân biệt với viêm khớp mủ, thấp khớp cấp và viêm mô tế bào. Dạng bán cấp hơn phải phân biệt với lao hoặc nhiễm khuấn xương do nấm, sarcom Ewing, hoặc đối với cốt tủy xương đốt sống, cân phân biệt với khối u di căn.

Biến chứng

Điều trị không đầy đủ có thể gây ra tình trạng nhiễm khuẩn mạn tính, khả năng này tăng lên khi chẩn đoán và điều trị muộn. Tổn thương lan vào xương hoặc khớp kế cận có thể là biến chứng của cốt tủy viêm cấp. Nhiễm khuẩn xương tái phát thường gây thiếu máu, sụt cân, suy yếu và hiếm hơn là bệnh nhiễm amyloid hoặc hội chứng thận thư, quá sản giả u biểu mô, ung thư tế bào vảy hoặc sarcom mô sợi thỉnh thoảng xuất hiện ở những tố chức bị nhiễm khuẩn dai dẳng.

Điều trị

Dựa vào kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh; thuốc lựa chọn ban đầu thường dựa vào phán đoán lâm sàng tác nhân gây bệnh. Liệu pháp Ciprofloxacin uống, 750 mg, hai lần mỗi ngày trong 6 - 8 tuần đã được chứng minh là có hiệu quả tương tự liệu pháp kháng sinh tiêm chuẩn trong điều trị cốt tủy viêm mạn tính ở người lớn do các chủng vi khuẩn nhậy cảm. Dẫn lưu kín hoặc hở ổ tổn thương rất quan trong khi lâm sàng không đáp ứng nhanh với các biện pháp điều trị ban đầu. Thuốc giảm đau, nghỉ ngơi, bất động, kê cao vị trí tổn thương nên được áp dụng từ đầu.

Tiên lượng

Nếu làm sạch vi khuẩn trong ổ nhiễm khuẩn trong vòng 2 - 4 ngày và nếu bệnh nhân không có rối loạn của hệ thống miễn dịch, kết quả điều trị thường tốt. Mặc dù vậy, bệnh có thể tiến triển sang thể mạn tính. Khả năng này đặc biệt hay gặp ở các chi dưới và ở những bệnh nhân có suy giảm tuần hoàn (chẳng hạn bệnh nhân đái tháo đường). Phẫu thuật thường cần thiết để khoét xương, loại bỏ xương chết và cắt lọc phần hoại tử của tổ chức lành.


Bài xem nhiều nhất

Hội chứng đường hầm cổ tay (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng này cần phải phân biệt với các hội chứng đau cổ cánh tay khác, hội chứng chèn ép thần kinh giữa vùng cẳng hoặc cánh tay, bệnh viêm một dây thần kinh. Khi bị bệnh ở tay trái, nó có thể bị nhầm lẫn với cơn đau thắt ngực.

Hội chứng Reiter (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng Reiter cần phải phân biệt với viêm khớp do lậu, đặc biệt khi viêm kết mạc nhẹ hoặc bị bỏ qua. Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp tiên phát và viêm khớp vảy nến cũng cần phải được xem xét.

Hội chứng Sjogren (chẩn đoán và điều trị)

Viêm kết giác mạc khô do giảm tiết nước mắt, gây nên bởi sự thâm nhiễm tế bào lympho và tương bào vào các tuyến lệ. Triệu chứng gồm nóng rát, ngứa, tiết rỉ mắt và không chảy nước mắt khi khóc.

Đau thắt lưng (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thực thể cũng rất quan trọng, bởi vì những triệu chứng như sốt, tăng huyết áp, hạch to, có khối u ở bụng, ở khung chậu hay ở trực tràng là những đầu mối quan trọng để phát hiện những nguyên nhân ngoài cột sống gây đau lưng.

Viêm khớp dạng thấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh toàn thân có viêm mạn tính màng hoạt dịch của nhiều khâp, mà nguyên nhân chưa rõ. Bệnh có bệnh cảnh lâm sàng phong phú với những biểu hiện đa dạng ở tại khớp và ngoài khớp.

Bệnh co thắt Dupuytren (chẩn đoán và điều trị)

Co thắt Dupuytren có biểu hiện bằng sự dầy lên của bao cân gan tay dạng nốt hoặc giống như dây thừng ờ một hoặc hai bàn tay và thường ảnh hưởng tới các ngón thứ tư và thứ năm. Bệnh nhân có thể thấy cảm giác bó chặt các ngón bị bệnh đến nỗi khó duỗi, đôi khi có tăng cảm giác đau.

Bệnh thoái khớp (hư khớp, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh được đặc trựng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ. Những yếu tố di truyền và cơ học ít nhiều có liên quan đến có chế bệnh sinh của bệnh.

Đánh giá và chẩn đoán bệnh cơ xương khớp

Làm các thăm dò xét nghiệm để hoàn thiện việc đánh giá. Những xét nghiệm thông thường gồm tốc độ lắng máu, phản ứng tìm yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân và các kháng thể khác, phân tích dịch khớp, chụp X quang.

Viêm quanh khớp vai (viêm dính bao khớp, khớp vai đông cứng)

Khởi phát của đau, tăng lên khi vận động khớp vai quá mức, có thể cấp tính hoặc từ từ. Đau có thể khó chịu nhất vào ban đêm và tăng lên khi nằm ngủ đè lên tay bị bệnh ở tư thế nằm nghiêng.

Viêm khớp mãn tính thiếu niên (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều trẻ bị viêm đa khớp mạn tính, các khớp liên mỏm đốt sống của cột sống cổ, đặc biệt C2 - 3 thường bị ảnh hưởng. Các bất thường về sự phát triển của có thể và sự phát triển của bộ xương liên qiian đến sự tiến triển cấp tính của bệnh, có thể chỉ là tạm thời và thường hồi phục.

Bệnh gút (viêm khớp do lắng đọng vi tinh thể)

Gút là một bệnh rối loạn chuyển hóa, thường có tính chất gia đình, do sự thay đổi bất thường lượng urat trong cơ thể và đặc trưng đầu tiên của bệnh là những cơn viêm khớp cấp tái phát, thường ở một khớp và sau đó là tình trạng viêm khớp biến dạng mạn tính.

Hội chứng đau cổ cánh tay (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân đau cổ gồm căng cứng hoặc vẹo cổ cấp hoặc mạn tính, thoát vị nhân nhày đĩa đệm, thoái khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, cốt tủy viêm, khối u, hẹp ống sống, gẫy xương có chèn ép và các rối loạn chức năng.

Bệnh hỗn hợp của mô liên kết (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh ít gặp, bệnh nhân có các triệu chứng của nhiều bệnh thấp khác nhau. Người ta quan tâm nhiều đến những bệnh nhân có các biểu hiện chồng chéo của LBH, xơ cứng bì và viêm đa cơ.

Những biểu hiện khớp trong nhiễm HIV (chẩn đoán và điều trị)

Các khớp chi dưới, đặc biệt là khớp gối và cổ chân thường bị ảnh hưởng nhiều nhất. Viêm gân Achille hoặc viêm quanh khớp gối, như trong hội chứng Reiter cổ điển, là những dấu hiệu thường nổi bật và rất đặc trưng.

Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh khớp mạn tính

Mức độ nghỉ ngơi phụ thuộc vào sự có mặt và mức độ viêm. Những bệnh nhân đang có viêm khớp và những triệu chứng toàn thân nặng như trong bệnh viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống hoặc viêm khớp vảy nến, nên nghỉ ngơi tại giường hoan toàn.

Xem theo danh mục