Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh khớp mạn tính

Ngày: 14 - 12 - 2016

Mức độ nghỉ ngơi phụ thuộc vào sự có mặt và mức độ viêm. Những bệnh nhân đang có viêm khớp và những triệu chứng toàn thân nặng như trong bệnh viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống hoặc viêm khớp vảy nến, nên nghỉ ngơi tại giường hoan toàn.

Giáo dục bệnh nhân và các yếu tố tinh thần

Những bệnh khớp mạn tính như viêm khớp dạng thấp, dễ làm cho người bệnh tin rằng họ phải điều trị trong suốt cuộc đời của họ. Cảm giác không có lợi này có thể làm cho người bệnh trở nên tàn phế hơn chính căn bệnh gây ra. Thầy thuốc nên giải thích cho bệnh nhân về căn bệnh của họ, mô tả tính chất không ổn định của bệnh và nên nói với họ là cần phải quyết định điều trị như thế nào. Nhiều bệnh nhân vẫn cho rằng điều trị có nghĩa là một đợt dùng thuốc ngắn và sau đó là một thời kì hồi phục. Cũng cần giải thích với người bệnh về khái niệm khống chế căn bệnh mạn tính và việc điều trị theo kinh nghiệm bằng các loại thuốc khác nhau để họ tin vào thầy thuốc. Ngoài ra cũng nên cho người bệnh biết tiên lượng của bệnh, điều đó giúp họ giảm bớt lo lắng vì nhiều bệnh nhân thường bi quan quá mức về nhưng gì xảy ra với họ. Giáo dục gia đình và những người thân là một nguồn động viên về tinh thần, giúp người bệnh về lâu dài cảm thấy yên tâm hơn.

Các phương pháp vật lý và phục hồi chức năng

Các thày thuốc vật lý trị liệu và phục hồi chức năng biết được những phương pháp điều trị bệnh khớp không dùng thuốc (sẽ mô tả dưới đây) và có thể hướng dẫn người bệnh. Hầu hết bệnh nhân rất đều muốn có thông tin thực tế về cách điều trị này. Những điều trị viên có thể xây dựng một chương trình giúp người bệnh áp dụng ngay tại nhà với sự theo dõi định kì.

Nghỉ ngơi hoàn toàn

Mức độ nghỉ ngơi phụ thuộc vào sự có mặt và mức độ viêm. Những bệnh nhân đang có viêm khớp và những triệu chứng toàn thân nặng như trong bệnh viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống hoặc viêm khớp vảy nến, nên nghỉ ngơi tại giường hoan toàn. Với những bệnh nhân mà tình trạng viêm nhẹ, nghỉ ngơi 2 giờ mỗi ngày là đủ. Nhìn chung việc nghỉ ngơi nên tiếp tục ít nhất 2 tuần sau khi các triệu chứng được cải thiện, sau đó chương trình có thể được tự do hóa. Song, việc tăng cường các hoạt động thể lực cũng phải tăng dần và với sự trợ giúp thích hợp đối với những khớp phải chịu tải đang bị bệnh.

Bất động khớp

Bất động khớp có thể góp phần làm giảm tình trạng viêm. Có thể cho bệnh nhân nằm sấp khoảng 15 phút, vài lần mỗi ngày để làm thư giãn và duỗi các cơ quanh khớp háng và khớp gối, tránh sự co cứng khớp ở tư thế gấp. Ngồi lâu ở tư thế gấp chân là một hình thức bất động khớp không hợp lí. Một số dụng cụ hố trợ có thể giúp cho khớp nghỉ ngơi, giảm co cứng, giảm sự biến dạng khớp, giảm sự co cứng của phần mềm và bảo vệ các dây chằng. Những dụng cụ này phải có thể tháo ra được, cho phép cử động và tập luyện hàng ngày những chi bị bệnh. Khi bệnh nhân bắt đầu đi lại được nên chú ý tránh cho những khớp bị bệnh phải chịu tải nặng dễ làm tăng sự biến dạng ở tư thể gấp, bằng cách dùng nạng hay gậy.

Tập luyện

Tập luyện nhằm duy trì chức nâng vận động của khớp, tăng cường sự dẻo dai và sức mạnh của cơ. Trước hết với những bệnh khớp có viêm, vận động thụ động và tập luyện đẳng trường là thích hợp nhất (chẳng hạn giơ cao chân duỗi thẳng). Ngâm mình trong nước cho phép luyện tập đẳng trương và đẳng trường, ít gây kính thích cho những hình thức tập luyện chủ động. Tuy lý tưởng đối với những bệnh nhân khớp song do chi phí còn cao nên việc áp dụng phương pháp này còn hạn chế. Khi bệnh đã thuyên giảm và đã có thể tập luyện, cần có những hình thức tập luyện thích hợp để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Bệnh nhân cần phải tuân thủ một nguyên tắc là tránh bất kì mọi hình thức tập luyện nào gây tăng đau đớn sau 1 giờ tập luyện.

Nhiệt và lạnh

Những phương pháp này trước hết có tác dụng giãn cơ và giảm đau. Sử dụng nguồn nhiệt chiếu sáng hoặc nước nóng nói chung là thích hợp nhất. Những bệnh nhân đi lại được sẽ thấy rằng những bồn tắm nước ấm rất thích hợp. Đắp parafin vào bàn tay là một phương pháp rẻ tiền và giúp cho bệnh nhân giảm hiện tượng cứng khớp buổi sáng. Khi tiếp xúc với nhiệt, việc tập luyện có thể tiến hành tốt hơn. Một số bệnh nhân thấy đỡ đau khớp khi áp lạnh tại chỗ.

Những thiết bị hỗ trợ

Bệnh nhân bị viêm khóp gối hoặc khớp háng nặng có thể thấy dễ chịu hơn khi có một chỗ đi vệ sinh được kê cao, dụng cụ có chỗ vịn tay, hoặc có một cái gậy để chống. Bệnh nhân cầm gậy trong tay phía bên kia của khớp háng hoặc khớp gối bị bệnh, do đó tránh phải tỳ người vào chân bị bệnh. Với những bệnh nhân nặng hơn có thể dùng nạng hoặc có người dìu.

Dùng nẹp

Sử dụng nẹp có thể giúp cho việc bất động khớp, giảm đau, ngăn chặn sự co cứng chi, nhưng cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:

Ở chi trên: dùng nẹp bàn tay hoặc cổ tay hoặc cả hai vào ban đêm để giữ chi ở tư thể cơ năng tốt nhất. Khớp khủyu và vai thường bị mất khả năng vận động rất nhanh cho nên các phương pháp điều trị tại chỗ khác hoặc tiêm corticosteroid thường thích hợp hơn dùng nẹp.

Ở chi dưới: Cách bất động tốt nhất cho khớp háng là tư thế cho nằm sấp vài giờ mỗi ngày trên giường cứng. Với khớp gối việc nằm sấp có thể cũng là đủ, sóng đôi khi vẫn cần phải nẹp để duỗi ở tối đa. Nẹp khớp cổ chân cần có hình gấp góc đơn giản.

Nẹp nên duy trì trong một thời gian cần thiết ngắn nhất và nên làm bằng những vật liệu nhẹ và có thể tháo ra dễ dàng để tập cử động khớp một hai lần mỗi ngày để tránh cứng khớp.

Cần sử dụng các nẹp hợp lí, chẳng hạn nẹp chống co gấp đối với khớp gối, với sự hướng dẫn của những thày thuốc đã quen với công việc này.

Cần nhớ rằng việc dùng nẹp sẽ ít cần thiết nếu tránh được tình trạng ngồi quá lâu hoặc kê đệm dưới khớp gối.

Giảm cân nặng

Với những bệnh nhân quá béo, cần cố gắng giảm tới cân nặng lý tưởng để làm giảm áp lực và sự tổn thương trên những khớp viêm ở chi dưới.


Bài xem nhiều nhất

Hội chứng đường hầm cổ tay (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng này cần phải phân biệt với các hội chứng đau cổ cánh tay khác, hội chứng chèn ép thần kinh giữa vùng cẳng hoặc cánh tay, bệnh viêm một dây thần kinh. Khi bị bệnh ở tay trái, nó có thể bị nhầm lẫn với cơn đau thắt ngực.

Hội chứng Reiter (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng Reiter cần phải phân biệt với viêm khớp do lậu, đặc biệt khi viêm kết mạc nhẹ hoặc bị bỏ qua. Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp tiên phát và viêm khớp vảy nến cũng cần phải được xem xét.

Hội chứng Sjogren (chẩn đoán và điều trị)

Viêm kết giác mạc khô do giảm tiết nước mắt, gây nên bởi sự thâm nhiễm tế bào lympho và tương bào vào các tuyến lệ. Triệu chứng gồm nóng rát, ngứa, tiết rỉ mắt và không chảy nước mắt khi khóc.

Đau thắt lưng (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thực thể cũng rất quan trọng, bởi vì những triệu chứng như sốt, tăng huyết áp, hạch to, có khối u ở bụng, ở khung chậu hay ở trực tràng là những đầu mối quan trọng để phát hiện những nguyên nhân ngoài cột sống gây đau lưng.

Viêm khớp dạng thấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh toàn thân có viêm mạn tính màng hoạt dịch của nhiều khâp, mà nguyên nhân chưa rõ. Bệnh có bệnh cảnh lâm sàng phong phú với những biểu hiện đa dạng ở tại khớp và ngoài khớp.

Bệnh co thắt Dupuytren (chẩn đoán và điều trị)

Co thắt Dupuytren có biểu hiện bằng sự dầy lên của bao cân gan tay dạng nốt hoặc giống như dây thừng ờ một hoặc hai bàn tay và thường ảnh hưởng tới các ngón thứ tư và thứ năm. Bệnh nhân có thể thấy cảm giác bó chặt các ngón bị bệnh đến nỗi khó duỗi, đôi khi có tăng cảm giác đau.

Bệnh thoái khớp (hư khớp, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh được đặc trựng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ. Những yếu tố di truyền và cơ học ít nhiều có liên quan đến có chế bệnh sinh của bệnh.

Đánh giá và chẩn đoán bệnh cơ xương khớp

Làm các thăm dò xét nghiệm để hoàn thiện việc đánh giá. Những xét nghiệm thông thường gồm tốc độ lắng máu, phản ứng tìm yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân và các kháng thể khác, phân tích dịch khớp, chụp X quang.

Viêm quanh khớp vai (viêm dính bao khớp, khớp vai đông cứng)

Khởi phát của đau, tăng lên khi vận động khớp vai quá mức, có thể cấp tính hoặc từ từ. Đau có thể khó chịu nhất vào ban đêm và tăng lên khi nằm ngủ đè lên tay bị bệnh ở tư thế nằm nghiêng.

Viêm khớp mãn tính thiếu niên (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều trẻ bị viêm đa khớp mạn tính, các khớp liên mỏm đốt sống của cột sống cổ, đặc biệt C2 - 3 thường bị ảnh hưởng. Các bất thường về sự phát triển của có thể và sự phát triển của bộ xương liên qiian đến sự tiến triển cấp tính của bệnh, có thể chỉ là tạm thời và thường hồi phục.

Bệnh gút (viêm khớp do lắng đọng vi tinh thể)

Gút là một bệnh rối loạn chuyển hóa, thường có tính chất gia đình, do sự thay đổi bất thường lượng urat trong cơ thể và đặc trưng đầu tiên của bệnh là những cơn viêm khớp cấp tái phát, thường ở một khớp và sau đó là tình trạng viêm khớp biến dạng mạn tính.

Hội chứng đau cổ cánh tay (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân đau cổ gồm căng cứng hoặc vẹo cổ cấp hoặc mạn tính, thoát vị nhân nhày đĩa đệm, thoái khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, cốt tủy viêm, khối u, hẹp ống sống, gẫy xương có chèn ép và các rối loạn chức năng.

Bệnh hỗn hợp của mô liên kết (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh ít gặp, bệnh nhân có các triệu chứng của nhiều bệnh thấp khác nhau. Người ta quan tâm nhiều đến những bệnh nhân có các biểu hiện chồng chéo của LBH, xơ cứng bì và viêm đa cơ.

Những biểu hiện khớp trong nhiễm HIV (chẩn đoán và điều trị)

Các khớp chi dưới, đặc biệt là khớp gối và cổ chân thường bị ảnh hưởng nhiều nhất. Viêm gân Achille hoặc viêm quanh khớp gối, như trong hội chứng Reiter cổ điển, là những dấu hiệu thường nổi bật và rất đặc trưng.

Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh khớp mạn tính

Mức độ nghỉ ngơi phụ thuộc vào sự có mặt và mức độ viêm. Những bệnh nhân đang có viêm khớp và những triệu chứng toàn thân nặng như trong bệnh viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống hoặc viêm khớp vảy nến, nên nghỉ ngơi tại giường hoan toàn.

Xem theo danh mục